Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá và không thể thay thế, nó được hình thành do quá trình lịch sử của tự nhiên và tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người. Đất đai có vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình kinh tế,văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng. nó không mất đi nhưng nó có giới hạn đối với con người. Chúng ta không thể dùng khoa học kỹ thuật hiện đại để làm tăng diện tích đất nhằm phục vụ cho quá trình phát triển của xã hội,nhưng chúng ta có thể sử dụng đất một cách hợp lý và khoa học để đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững trong tương lai.
Để đạt được mục tiêu sử dụng đất cho sự phát triển bền vững trong tương lai thì nhất thiết chúng ta phải lập quy hoạch sử dụng đất hợp lý và tiến hành thực hiện quy hoạch một cách nghiêm túc. Thành phố Tuyên Quang là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị quan trọng của tỉnh Tuyên Quang. Cùng với sự phát triển của kinh tế- xã hội thì nhu cầu sử dụng đất của thành phố cũng tăng lên. Do đó, thành phố đã xây dựng phương án quy hoạch sử dụng đất phù hợp và lâu dài đáp ứng nhu cầu phát triển của của các ngành, các lĩnh vực.
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp nhằm tổ chức, sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao, góp phần bảo vệ tài nguyên đất, phân bố hợp lý lao động trên lãnh thổ và tổ chức hợp lý các tư liệu sản xuất khác có liên quan đến đất. Trong khi đó kế hoạch sử dụng đất là h 2 việc phân chia quy hoạch sử dụng đất theo thời gian và được thực hiện trong kỳ quy hoạch. Về thực chất kế hoạch sử dụng đất đai là sự cụ thể hóa quy hoạch sử dụng đất. Nhằm xác định giới hạn từng loại đất có chức năng khác nhau,đồng thời sắp xếp lại việc sử dụng đất cũ, đưa đất mới vào sử dụng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất đi đôi với việc bảo vệ và bồi dưỡng quỹ đất.
Nhưng thực tế, việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất đai lại gặp rất nhiều những khó khăn,trở ngại dẫn đến kế hoạch, quy hoạch không phát huy hết hiệu quả. Để việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất các giai đoạn sau tốt hơn thì việc đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất giai đoạn trước là hết sức cần thiết. Xuất phát từ vấn đề đó, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Quản lý tài nguyên- Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của cô giáo TS. Nguyễn Thị Lợi, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của thành phố Tuyên Quang”.
Mục tiêu tổng quát Đánh giá được việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất của thành phố Tuyên Quang năm 2017, nhằm xác định được những mặt tích cực và những mặt còn hạn chế của kế hoạch sử dụng đất. Rút ra kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp có tính khả thi trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch các giai đoạn tiếp theo. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Tuyên Quang năm 2017. - Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất năm 2017 của thành phố Tuyên Quang.
h 3 - Đề xuất một số giải pháp để khắc phục những khó khăn trong công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất của thành phố Tuyên Quang 1. Ý nghĩa của đề tài - Đối với việc học tập: Giúp cho sinh viên nắm chắc hơn những kiến thức đã học trong nhà trường, học hỏi được kinh nghiệm thực tế để phục vụ cho công việc. Đồng thời giúp sinh viên hình thành các kĩ năng nghiệp vụ quản lý đất đai. Là môi trường, điều kiện lý tưởng giúp sinh viên trở thành kĩ sư quản lý đất đai sau này.
- Đối với thực tiễn: Qua quá trình nghiên cứu về tình hình thực hiện kế hoạch sử dụng đất tại thành phố sẽ rút ra được những tồn tại, thiếu sót của công tác thực hiện kế hoạch và tìm ra những nguyên nhân chủ yếu, từ đó đề ra các giải pháp phù hợp để khắc phục và nâng cao hiệu quả. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Đất đai và vai trò của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế xã hội 2.
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người, tồn tại ngoài ý muốn của con người và ngay từ khi sơ khai thì con người đã biết sử dụng đất để phục vụ cho đời sống của mình là để ở và sản xuất Đất đai là một tặng vật vô cùng quý giá mà tạo hoá ban tặng cho con người, là nguồn gốc của mọi của cải vật chất trong xã hội, là tư liệu sản xuất không thể thay thế, là thành phần quan trọng hàng đầu của sự sống, là nguồn tài nguyên không tái tạo trong nhóm tài nguyên hạn chế của mỗi quốc gia. Đất đai là địa bàn phân bố các khu dân cư, là nền tảng xây dựng các ngành, các công trình phục vụ cho sản xuất, đời sống và sự nghiệp phát triển văn hoá, an ninh quốc phòng của mỗi đất nước. Nhận thấy tầm quan trọng của đất đai. Mác đã khái quát rằng: “Đất là mẹ, sức lao động là cha sản sinh ra của cải vật chất.” Về diện tích tự nhiên, nước ta có quy mô trung bình xếp thứ 59 trong tổng số 200 nước trên thế giới, nhưng với dân số đông vào thứ 13 trên thế giới nên nước ta thuộc loại “đất chật người đông”.
Bình quân diện tích tự nhiên trên đầu người thấp (0,43 ha) chỉ bằng 1/7 mức bình quân của thế giới(3,0ha). Vì vậy đặc điểm hạn chế về đất đai càng thể hiện rõ và đòi hỏi sử dụng đất phải phù hợp hơn. Tuy nhiên cần lưu ý các tính chất đặc biệt của các loại tư liệu sản xuất là đất so với các loại tư liệu sản xuất khác nhau như sau. (1) Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý trí và nhận thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện h 5 tự nhiên của lao động.
Chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội,dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất. Trong khi đó, sản xuất khác là kết quả lao động của con người (do con người tạo ra). (2) Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu.Trong khi các tư liệu sản xuất khác có thể tăng lên về số lượng, chế tạo lại tuỳ theo nhu cầu xã hội. Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất về chất lượng, quy cách, tiêu chuẩn.
[11] (4) Tính không thay thế: Việc thay thế đất bằng tư liệu sản xuất khác là việc không thể làm được. Các tư liệu sản xuất khác, tuỳ thuộc vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể được thay thế bằng tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn. Trong khi các tư liệu sản xuất khác được sử dụng ở mọi chỗ, mọi nơi, có thể di chuyển được trên các khoảng cách khác nhau tuỳ theo sự cần thiết.[11] (6) Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu. Nếu biết sử dụng hợp lý, đúng cách, đặc biệt là trong sản xuất nông - lâm nghiệp, đất sẽ không bị hư hỏng, mà ngược lại nó có thể cho năng suất cao hơn, tăng tính sản xuất(độ phì nhiêu), cũng như hiệu quả sử dụng đất.
Khả năng tăng tính chất sản xuất của đất tuỳ thuộc vào phương thức sử dụng là tính chất có giá trị đặc biệt, không có tư liệu sản xuất nào bị loại bỏ khỏi quá trình sản xuất. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là sản phẩm của tự nhiên nó hình thành độc lập với con người. Nhưng sự tồn tại và phát triển của con người lại phụ thuộc rất lớn vào đất đai. Nó là nơi sản xuất nông, lâm, công nghiệp, nơi h 6 ở và sinh hoạt văn hoá của con người.
Sự tồn tại và phát triển của chất lượng đất đai phụ thuộc vào ý thức và phương thức tổ chức khai thác sử dụng đất đai của con người. Chính vì vậy mà từ trước tới nay ở bất kì xã hội nào việc khai thác và sử dụng đất đai vẫn luôn là vấn đề mang tính quốc sách. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế - xã hội Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện theo các mặt sau: Sản xuất; Môi trường sự sống; Cân bằng sinh thái; Tàng trữ và cân bằng nguồn nước; Dự trữ (nguyên liệu và khoáng sản trong lòng đất), Không gian sự sống: Bảo tồn - bảo tàng sự sống; Vật mang sự sống, Phân dị lãnh thổ. Luật Đất đai 2003 cũng khẳng định: - Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người cũng như tất cả các sinh vật khác trên trái đất.[4] - Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt.[4] - Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống.[4] - Là địa bàn phân bố các đô thị, làng mạc, các khu công nghiệp, giao thông, thuỷ lợi, các công trình phúc lợi xã hội.
[4] Trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai giữ vị trí và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên của mọi quá trình sản xuất. Là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao động và là nơi sinh tồn của xã hội loài người và có vai trò đối với từng ngành kinh tế rất khác nhau: (1) Đối với ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động đối với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, sản xuất. Là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản).