Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống,làđịa bàn phânbố dân cư, là nền tảng xây dựng các khu kinh tế - văn hóa – xã hội, quốc phòng an ninh. Trong điều kiện thực tế nước ta diện tích đất đai còn hạn hẹp với một phần tư là đất đồng bằng còn lại ba phần tư diện tích là đồi núi. Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển dẫn đến nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng về cả số lượng và chất lượng đã tạo nên sức ép cho công tác quản lý đất đai phục vụ nhu cầu của cuộc sống. Sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là việc làm cần thiết vì nó mang lại mô hình phù hợp, tránh lãng phí nguồn tài nguyên.
Bởi vậy mỗi đơn vị hành chính nhất thiết phải lập quy hoạch sử dụng đất. Quy hoạch đất đai mang tính chất dự báo và thể hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của các ngành và các vùng lãnh thổ trên từng địa bàn cụ thể theo các mục đích sử dụng đất đai hợp lý và có hiệu quả. Một thực tế đang tồn tại ở các địa phương, đặc biệt là ở cấp xã, phường việc thực hiện quy hoạch sử dụng đất đai thường làm không đúng theo quy trình nên không đạt được hiệu quả cao. Vì vậy việc đánh giá kết quả quy hoạch sử dụng đất để kịp thời đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện của các phương án quy hoạch sử dụng đất hiện nay là rất cần thiết.
Xuất phát từ vấn đề đó được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm Khoa Quản Lý Tài Nguyên - Trường Đại hoc Nông Lâm Thái Nguyên và dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo: TS Lê Văn Thơ, em tiến hành nghiên cứu đề tài:“Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2011-2015 tại phường Hồng Hải thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh” n 2 1. Mục tiêu tổng quát - Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất của phường Hồng Hải giai đoạn 2011 - 2015. - Rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp trong việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch sử dụng đất của phường giai đoạn 2011 - 2015 theo từng năm và cả giai đoạn.
- Tìm hiểu nguyên nhân của những tồn tại trong công tác thực hiện kế hoạch sử dụng đất, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng thực hiện quy hoạch sử dụng đất của phường Hồng Hải trong các giai đoạn sau. Yêu cầu của đề tài - Nắm vững các quy phạm của công tác quy hoạch đất đai. - Chỉ ra được những ưu, nhược điểm sau quá trình thực hiện quy hoạch. Ý nghĩa của đề tài * Ý nghĩa khoa học - Giúp sinh viên củng cố thêm kiến thức và tìm hiểu thực tế về công tác thành lập quy hoạch và các quy phạm của nó.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập số liệu và sử lý số liệu của sinh viên trong quá trình làm đề tài. * Ý nghĩa thực tiễn Quá trình thực hiện nghiên cứu về tình hình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại phường sẽ rút ra được những tồn tại, thiếu sót của công tác thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và những nguyên nhân chủ yếu, từ đó có những giải pháp phù hợp để khắc phục. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Đất đai và vai trò cuả đất đai trong sản xuất vật chất và phát triểnkinh tế - xã hội 2. Khái niệm về đất đai Cho tới nay có nhiều định nghĩa về đất đai nhưng định nghĩa của nhà thổ nhưỡng học người Nga Docutraep (1987: “Đất là vật thể tự nhiên được hình thành qua một thời gian dài do kết quả tác động của 5 yếu tố là đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian” (Đỗ Thị Lan, Đỗ Anh Tài, 2006)[4]. Theo cách định nghĩa của FAO: “Đất đai là một tổng thể vật chất bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên của thực thể vật chất đó”. Như vậy đất đai là một phạm vi không gian như một vật mang những giá trị theo ý niệm của con người.
Theo cách định nghĩa này đất đai thường được gắn với một giá trị kinh tế được thể hiện bằng giá tiền trên một đơn vị diện tích đất đai khi có sự chuyển quyền sở hữu (Đỗ Thị Lan, Đỗ Anh Tài, 2006)[4]. Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt Đất là sản phẩm của tự nhiên, xuất hiện trước con người, tồn tại ngoài ý muốn của con người và ngay từ kì sơ khai thì con người đã biết sử dụng đất để phục vụ cho đời sống của mình: để ở và sản xuất. Đất đai là điều kiện vất chất chung nhất đối với mọi ngành sản xuất và hoạt động của con người, vừa là đối tượng lao động, vừa là phương tiện lao động, do đó đất đai là “Tư liệu sản xuất”. Tuy nhiên đất đai có những tính chất đặc biệt khác với các tư liệu sản xuất khác: - Đặc điểm tạo thành: Đất đai xuất hiện, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người, là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, là điều kiện n 4 tự nhiên của lao động, chỉ khi tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội dưới tác động của lao động đất đai mới trở thành tư liệu sản xuất.
Trong khi đó các tư liệu sản xuất khác là kết quả của sức lao động do con người tạo ra. - Tính hạn chế về số lượng: Đất đai là tài nguyên hạn chế, diện tích đất bị giới hạn bởi ranh giới đất liền trên bề mặt địa cầu. Các tư liệu sản xuất khác có thể tăng về số lượng, chế tạo lại tùy theo nhu cầu xã hội. - Tính không đồng nhất: Đất đai không đồng nhất về chất lượng, hàm lượng dinh dưỡng, các tính chất lý hóa, quyết định bởi yếu tố hình thành đất cũng như chế độ sử dụng đất khác nhau.
Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất về tiêu chuẩn, quy cách. - Tính không thay thế: Thay thế đất bằng tư liệu sản xuất khác là không thể làm được. Các tư liệu sản xuất khác, tùy thuộc vào mức độ phát triển của lực lượng sản xuất có thể thay thế bằng tư liệu sản xuất khác hoàn thiện hơn, có hiệu quả kinh tế cao hơn. - Tính cố định về vị trí: Đất đai hoàn toàn cố định về vị trí trong sử dụng.
Các tư liệu sản xuất khác được sử dụng mọi chỗ mọi nơi, có thể di chuyển trên các khoảng cách khác nhau tùy theo sự cần thiết. - Tính vĩnh cửu: Đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu. Nếu biết sử dụng hợp lý trong sản xuất nông nghiệp đất sẽ không bị thoái hóa, ngược lại có thể tăng tính chất sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng đất (Lương Văn Hinh và cộng sự, 2003). Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất vật chất và phát triển kinh tế - xã hội - môi trường Đất đai tham gia vào tất cả các ngành sản xuất vật chất trong xã hội nhưng với từng ngành cụ thể nó có vai trò khác nhau: + Đối với ngành phi nông nghiệp: Đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất (các khoáng sản).
Quá trình sản xuất và sản n 5 phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong lòng đất. + Đối với nông- lâm - nghiệp: Đất không chỉ là cơ sở không gian, là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của ngành sản xuất này mà đất còn là yếu tố tích cực của sản xuất. Quá trình sản xuất nông, lâm nghiệp còn liên quan chặt chẽ với đất, phụ thuộc vào các quá trình sinh học tự nhiên của đất. + Đối với môi trường: Đất được coi như một “hệ đệm”, như một “phễu lọc” luôn luôn làm trong sạch môi trường với tất cả các chất thải thông qua hoạt động sống của vi sinh vật nói chung và con người nói riêng.
Khái niệm quy hoạch sử dụng đất QHSDĐ là một hiện tượng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất:[6] - Tính kinh tế: Thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất - Tính kỹ thuật: Bao gồm các tác nghiệp chuyên môn kỹ thuật như: điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, khoanh định, xử lý số liệu. - Tính pháp chế: Xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo quy hoạch sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật. Từ đó có thể đưa ra khái niệm về quy hoạch sử dụng đất như sau: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp chế của nhà nước về tổ chức sử dụng và quản lý đất đai đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao nhất thông qua việc phân bổ quỹ đất đai (khoanh định cho các mục đích của các ngành) và tổ chức sử dụng đất như một tư liệu sản xuất (các giải pháp sử dụng cụ thể), nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất đai và môi trường” (Nguyễn Ngọc Nông, Nguyễn Đình Thi, 2003). Cơ sở pháp lý của quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất 2.
Các nội dung quản lý nhà nước về đất đai n 6 * Theo Luật Đất đai 2003[5] Khoản 2 điều 6 quy định 13 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai bao gồm: 1. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát đo đạc, đánh giá phân hạng đất, lập bản đồ địa chính bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất.
Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất. Đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thống kê, kiểm kê đất đai.