chương 1 ở trên, tác giả Lâm Quang Thiệp3 đã phân loại các phương pháp đánh giá theo sơ đồ 2.1 Phân loại phương pháp đánh giá 3 Lâm Quang Thiệp, Trắc nghiệm và ứng dụng, NXB Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội, Trang 16,17 [6] Luan van Có nhiều kiểu phân loại các phương pháp đánh giá trong giáo dục, tùy theo cách xem xét và mục tiêu để chúng ta phân loại.1 Theo cách thực hiện việc đánh giá Theo cách này có thể phân chia các phương pháp đánh giá làm ba loại lớn: Quan sát, vấn đáp và viết. - Loại quan sát: Giúp đánh giá các thao tác, các hành vi, các phản ứng vô thức, các kỹ năng thực hành và cả một số kỹ năng về nhận thức, chẳng hạn cách giải quyết vấn đề trong một tình huống đang được nghiên cứu. - Loại vấn đáp: Có tác dụng tốt để đánh giá khả năng ứng đáp các câu hỏi được nêu một cách tự phát trong một tình huống cần kiểm tra, cũng thường được sử dụng khi sự tương tác giữa người hỏi và người đối thoại là quan trọng, chẳng hạn để xác định thái độ người đối thoại. - Loại viết: Thường được sử dụng nhiều nhất vì có các đặc điểm sau đây: + Kiểm tra được nhiều người học cùng lúc + Người học có thời gian cân nhắc trươc khi trả lời + Có thể đánh giá một số loại tư duy ở mức độ cao + Dễ quản lý vì người đánh giá không tham gia trực tiếp được vào bối cảnh kiểm tra.2 Theo mục tiêu của việc đánh giá Phân chia các phương pháp đánh giá thành hai nhóm chính: Đánh giá trong tiến trình (formative) và đánh giá tổng kết (summative) - Đánh giá trong tiến trình được sử dụng trong quá trình dạy và học để nhận được các phản hồi từ người học, xem xét mức độ thành công của việc dạy và học, chỉ ra trở ngại và tìm cách khắc phục.
- Đánh giá tổng kết nhằm tổng kết những gì người học đạt được, xếp loại người học, lựa chọn người học thích hợp để tiếp tục đào tạo hoặc sử dụng trong tương lai, chứng tỏ hiệu quả của khóa học và của việc dạy, đề ra mục tiêu tương lai cho người học. [7] Luan van Hai nhóm đánh giá nêu trên được tiến hành theo những cách hoàn toàn khác nhau. Trong giảng dạy ở nhà trường, các đánh giá trong tiến trình thường gắn chặt với người dạy, còn các đánh giá kết thúc thường bám sát vào mục tiêu dạy học đã được đề ra, và có thể tách khỏi giảng viên.3 Theo phƣơng hƣớng sử dụng kết quả đánh giá Theo cách này, ta phân chia đánh giá theo chuẩn (norm - referenced) và đánh giá theo tiêu chí (criterion - refernced). - Đánh giá theo chuẩn: Là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các cá nhân khác trong một nhóm và trên đó việc đánh giá được thực hiện.
- Đánh giá theo tiêu chí: Là đánh giá được sử dụng để xác định mức độ thực hiện của một cá nhân nào đó so với các tiêu chí xác định cho trước của môn học hoặc chương trình học.4 Kiểm tra, đánh giá là một thành tố trong quá trình dạy học Kết quả học tập mà người học đạt được sẽ được kiểm tra, đánh giá, so sánh với mục đích dạy học hay là sự phản ánh nhu cầu xã hội đối với quá trình dạy học4. Trong quá trình dạy học thì kiểm tra, đánh giá người học là một thành tố quan trọng và được thể hiện như sơ đồ5 sau: 4 Nguyễn Văn Hộ, Lý luận dạy học, NXB Giáo dục 2002 5 Nguyễn Văn Tuấn, Lý luận dạy học, ĐHSPKT TPHCM 2009, trang 91 [8] Luan van - Kiểm tra và đánh giá là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học. Kiểm tra- đánh giá có mối liên hệ khăng khít với nhau, trong đó kiểm tra là phương tiện còn đánh giá là mục đích. - Kiểm tra là công cụ để đo lường trình độ kỹ năng, kỹ xảo của người học.
Đánh giá là xác định mức độ của trình độ kiến thức, kỹ năng, kỷ xảo của người học. Kiểm tra đánh giá là khâu cuối cùng của quá trình dạy học, nó mang tầm quan trọng rất lớn vì không có kiểm tra và đánh giá thì quá trình dạy học không hoàn tất. * Các nguyên tắc đánh giá6 - Đánh giá phải khách quan - Đánh giá phải dựa vào mục tiêu dạy học - Đánh giá phải toàn diện - Đánh giá phải thường xuyên và có kế hoạch - Đánh giá phải nhằm cải tiến phương pháp giảng dạy, hoàn chỉnh chương trình * Các yếu tố tác động đến đánh giá kết quả học tập - Giới tính - Độ tuổi - Nơi cư trú - Ngành học - Năm học hiện tại so với độ tuổi - Kết quả điểm trung bình - Mức độ tham gia các hoạt động trên lớp 1.3 Các khái niệm về Logic mờ. Sự ra đời của lý thuyết tập mờ Như ta biết, vào trước những năm 1965 hầu hết các bài toán đều sử dụng lý thuyết tập rõ nên có rất nhiều hạn chế với các lớp bài toán trong môi trường thông tin không chính xác, không chắc chắn.
Và khái niệm tập mờ (Fuzzy Set) do nhà toán học 6 Nguyễn Văn Tuấn, Lý luận dạy học, ĐHSPKT TPHCM 2009, trang 94 [9] Luan van người Mỹ Zadeh đưa ra năm 1965 đã được đưa vào ứng dụng rất nhanh chóng và trở nên phổ biến. Các thiết bị làm việc trên cơ sở lý thuyết tập mờ hiện có khắp mọi nơi trong cuộc sống thường nhật như máy giặt fuzzy, máy ảnh fuzzy,. đã giúp cho sự phổ thông hóa nhanh chóng khái niệm lý thuyết này. Zadeh là người sáng lập ra lý thuyết tập mờ với nhiều bài báo mở đường cho sự phát triển và ứng dụng của lý thuyết này, khởi đầu là bài báo “Fuzzy Set”trên tạp chí Information and Control vào tháng 8 năm 1965.
Ý tưởng nổi bậc về khái niệm tập mờ của Zadeh là từ những khái niệm trừu tượng về ngữ nghĩa của thông tin mờ, không chắc chắn như: Trẻ, nhanh, cao-thấp, xinh đẹp, …, ông đã tìm ra cách biểu diễn các khái niệm trên bằng một khái niệm toán học được gọi là tập mờ, tập này được xem như một khái quát trực tiếp của các khái niệm về tập hợp kinh điển.Zadeh, người đưa ra lý thuyết về Logic mờ (Fuzzy Logic ) Tập hợp mờ là tập các phần tử và lý thuyết tập hợp mờ gồm các phép toán xử lý trên phần tử của tập hợp. Trung tâm của lý thuyết tập hợp mờ là tập các hàm thuộc (membership). Các hàm thuộc này chỉ có một trong hai giá trị là đúng hoặc sai, tương ứng với Logic Bool hai giá trị 1 đúng 0 sai. Ví dụ: Kí hiệu tập Z là tập tất cả con người và chúng ta định nghĩa tập A của Z là tập những người trẻ.
Để tạo ra tập con này ta định nghĩa một membership, hàm thuộc đó sẽ gán giá trị 1 hay 0 cho mỗi phần tử z của Z. Bởi vì ta chỉ xử lý hai giá trị nên hàm thuộc chỉ đơn giản là định nghĩa một giá trị ngưỡng mà ở ngưỡng hoặc nhỏ hơn ngưỡng thì một người được xem là trẻ và lớn hơn ngưỡng thì được xem là không trẻ.1b tóm tắt khái niệm này và dùng ngưỡng là 20 tuổi, kí hiệu µA(z) là membership. [10] Luan van Hình 1.1b Biểu diễn hàm thuộc A (z ) trên tập những người trẻ A. Ta thấy có sự không chuẩn xác nhất định bởi vì, một người được xem là trẻ nhưng mới 20 tuổi 1 giây thì lại không trẻ.
Đây là giới hạn của tập rõ. Ta cần định nghĩa linh hoạt hơn ý nghĩa của từ “trẻ” tức là có sự thay đổi dần dần từ trẻ sang không trẻ.1c cho thấy khái niệm như trên.1c Biểu diễn sự linh hoạt của hàm thuộc với khái niệm trẻ và không trẻ. Đặc điểm của hàm này là ta có vô số giá trị tức là miền chuyển tiếp từ trẻ sang không trẻ và liên tục, như vậy ta có độ trẻ. Bây giờ ta có thể phát biểu như sau: Người trẻ nằm ở miền bằng phẳng cao, tương đối trẻ nằm ở vùng bắt đầu giảm dần, chính giữa vùng giảm dần là trẻ 50%, hơi trẻ nằm ở cuối vùng giảm dần…Những phát biểu mờ thường nghe thấy khi con người nói chuyện với nhau về tuổi tác, chúng ta có thể diển tả hàm thuộc có vô hạn giá trị và nó làm nền tảng của logic mờ.
Tập hợp mà nó tạo ra được gọi là tập mờ. Ta sẽ trình bày logic mờ dưới dạng công thức trong các khái niệm dưới đây. Các khái niệm về lý thuyết tập mờ. Gọi Z là tập các phần tử, mỗi phần tử của Z kí hiệu là z hay Z={z}.
Tập này được gọi là tập nền. Bây giờ tập mờ A trong Z được mô tả bằng hàm thuộc µA(z), hàm thuộc đó liên kết mỗi phần tử của Z với một số thực trong khoảng [0,1]. Giá trị của µA(z) tại z biểu diễn độ thuộc của z trong A. Khái niệm “thuộc về” ở tập rõ thì khác với tập mờ.
Với tập rõ ta nói một phần tử là thuộc về hay không thuộc về. Với tập mờ ta nói tất cả các phần tử z có µA(z) =1 là các phần tử đầy đủ của tập hợp, tất cả các phần tử z có µA(z) =0 không phải là các phần tử đầy đủ của tập hợp và tất cả các phần tử z có µA(z) nằm giữa 0 và 1 được gọi là phụ thuộc một phần trong tập hợp. Vì vậy tập mờ là cặp có thứ tự gồm giá trị của z và các hàm thuộc tương ứng gắn độ thuộc cho phần tử z. A {z , A ( z ) | z Z } Khi các biến là liên tục thì tập A có vô hạn phần tử.
Khi z rời rạc thì các phần tử của A là tường minh. Ví dụ, nếu tuổi là số nguyên dương ta sẽ có tập A như sau: A {(1,1), (2,1),.} Trong đó những phần tử lớn hơn 30 không phải là phần tử của tập. Thuật ngữ tập mờ và hàm thuộc có ý nghĩa như nhau. Khi µA(z) chỉ có hai giá trị là 0 hay 1, hàm thuộc suy biến thành các hàm đặc trưng của tập rõ.
Như vậy tập rõ là trường hợp đặc biệt của tập mờ. Dưới đây ta sẽ xem xét vài định nghĩa của tập mờ được mở rộng từ tập rõ hay còn gọi là tập cổ điển. Tập rỗng: Tập mờ được gọi là tập rỗng nếu và chỉ nếu hàm phụ thuộc của nó đều bằng 0 trong Z.