Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm quản lý tài chính Quản lý tài chính trong bối cảnh các cơ sở y tế là “Tìm đủ nguồn lực để hoạt động và sử dụng nguồn lực đó một cách tiết kiệm và tối ưu nhất” [41]. Tài chính y tế có ba chức năng cơ bản bao gồm [27]: (1) Huy động nguồn tài chính/thu phí (để có nguồn tài chính đủ lớn và có tính công bằng). Thu từ nguồn nào, bao nhiêu, thu như thế nào để đảm bảo công bằng và hiệu suất cao nhất (tốn ít chi phí nhất); (2) Tập trung thành quỹ/quản lý quỹ tài chính (quản lý tốt, tránh thất thoát, tạo được tiếng nói với bên nhà cung ứng, đảm bảo đủ tài chính cho các ưu tiên sức khỏe của xã hội và chia sẻ rủi ro giữa các thành viên trong cộng đồng); (3) Chi trả/mua dịch vụ hoặc phân bổ cho đơn vị cung ứng (nhằm tạo nên giá trị sức khỏe cao nhất, thỏa mãn nhu cầu sức khỏe của người dân với chi phí thấp nhất, giúp người dân, đặc biệt là người nghèo tránh các rủi ro về tài chính).
Hiện nay, các bệnh viện công thực hiện các hoạt động quản lý tài chính theo Nghị định 43. Căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, bệnh viện được phân thành 3 loại [20]: (1) Bệnh viện tự đảm bảo chi phí hoạt động; (2) Bệnh viện tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động; (3) Bệnh viện do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động. Theo phân loại bệnh viện của Nghị định 43, Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang là bệnh viện tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động. Các qui định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với bệnh viện tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động (xem chi tiết phần phụ lục 4).
Theo đó, bệnh viện tuân theo các chế độ quản lý hoạt động thu - chi trong bệnh viện công: - Luật Ngân sách số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002. - Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/6/2003. - Nghị định số 128/2004/NĐ - CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán áp dụng trong lĩnh vực kế toán Nhà nước. - Chế độ Kế toán Hành chính sự nghiệp qui định tại Quyết định số 5 19/2006/QĐ - BTC ngày 30/3/2006 của Bộ Tài chính.
Các khoản chi tiêu được kế hoạch hóa và hạch toán theo mục lục Ngân sách được qui định. - Nghị định 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm và thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. - Qui chế chi tiêu nội bộ của bệnh viện (được xây dựng và thực hiện vào năm 2004, có chỉnh sửa và thay đổi hàng năm thông qua Đại hội cán bộ viên chức của bệnh viện và dựa vào các quy định hiện hành). Hoạt động thu Hoạt động thu của các bệnh viện được phân tích thành các nguồn như: NSNN, thu sự nghiệp (thu viện phí (thu Bảo hiểm Y tế (BHYT) và thu không BHYT), thu dịch vụ, thu khác) và viện trợ [20].
Nguồn NSNN là kinh phí được Nhà nước cấp hàng năm qua dự toán theo định mức giường bệnh kế hoạch (GBKH). Hiện nay, NSNN cấp cho các bệnh viện chưa đáp ứng được các nội dung chi phụ thuộc vào NSNN như đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và trả lương, phụ cấp cho nhân viên y tế [30]. Ngân sách nhà nước cấp cho các bệnh viện chủ yếu dựa trên xếp hạng bệnh viện và quy mô GBKH [26]. Trong những năm gần đây, NSNN cấp cho bệnh viện đã chuyển một phần sang hỗ trợ trực tiếp cho người bệnh.
Việc giảm dần cấp NSNN trực tiếp cho bệnh viện để mua thẻ BHYT cho người dân là một thay đổi rất quan trọng của tài chính y tế Việt Nam. Trong thời gian tới NSNN cấp cho các bệnh viện vẫn thấp và sẽ tiếp tục giảm nên nguồn thu chủ yếu của các bệnh viện sẽ là nguồn thu sự nghiệp [30]. Thu sự nghiệp là nguồn thu từ các hoạt động của bệnh viện bao gồm thu viện phí (thu BHYT và thu không BHYT), thu dịch vụ và thu khác. Trong những năm gần đây nguồn thu sự nghiệp các bệnh viện tăng rõ rệt.
Tỷ lệ nguồn thu sự nghiệp tăng lên ở các bệnh viện tuyến tỉnh chiếm 81,7% [32]. Thu viện phí là nguồn thu từ cung cấp các dịch vụ KCB theo khung giá quy định của Nhà nước. Giá viện phí dựa trên khung giá thu một phần viện phí quy định tại Thông tư liên bộ số 04/2012/TTLB-BYT-BTC ngày 29/02/2012 Ban hành mức tối đa 6 khung giá một số dịch vụ KCB trong các cơ sở KCB của Nhà nước. Nguồn thu dịch vụ là nguồn thu từ dịch vụ KCB theo yêu cầu, mặt bằng, nhà thuốc, căn tin,.
Nguồn thu dịch vụ do bệnh viện chủ động lập kế hoạch dựa trên nhu cầu của người bệnh và khả năng đáp ứng của bệnh viện. Giá thu do bệnh viện quy định trên cơ sở cân đối được thu, chi và có tích lũy [9], [20]. Nguồn thu này sẽ là nguồn thu tương đối quan trọng để bệnh viện cải thiện thu nhập cho cán bộ viên chức và tích lũy vốn cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, việc đẩy mạnh xã hội hóa tại các bệnh viện và thu phí theo dịch vụ cũng có thể dẫn đến chi phí y tế do người dân tự chi trả ngày càng tăng nếu không có sự kiểm soát việc chỉ định và sử dụng dịch vụ y tế (DVYT), đặc biệt là các dịch vụ kỹ thuật cao [30].
Nguồn thu khác là các nguồn thu từ lệ phí dự thầu, từ thiện, thu hỗ trợ bệnh viện, tiền dinh dưỡng cho người bệnh,. Nguồn viện trợ tài trợ, quà biếu, tặng là các nguồn viện trợ tài trợ, quà biếu, tặng từ các đơn vị trong và ngoài nước. Hoạt động chi Hiện nay, chi phí của các bệnh viện đang gia tăng, sự gia tăng chi phí cho sử dụng thuốc, chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm đã làm thay đổi cơ cấu chi phí theo hướng tăng tỷ lệ chi phí cho chuyên môn nghiệp vụ, giảm tỷ lệ chi cho thanh toán cá nhân [26], [30]. Tuy nhiên, trong cơ cấu chi thường xuyên của các bệnh viện không có chi phí khấu hao tài sản cố định do các bệnh viện đang thực hiện chế độ thu một phần viện phí.
Nghị định 43 quy định cụ thể các hoạt động chi thường xuyên gồm: chi cho con người, chi cho chuyên môn nghiệp vụ, chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định (TSCĐ) và chi khác được thể hiện trong bảng 1.2 [20] và quy chế chi tiêu nội bộ của bệnh viện cũng quy định tương tự.1: Các hoạt động chi theo Nghị định 43 TT Các hoạt động chi Định nghĩa 1 Chi cho con người Là chi lương theo ngạch bậc, lương tăng thêm và các khoản phụ cấp, trích nộp theo lương, tương ứng với các mục chi từ 6000 đến 6400. 2 Chi cho chuyên môn Là các khoản chi phục vụ trực tiếp công tác KCB như nghiệp vụ (CMNV) thuốc, máu, vật tư y tế (VTYT), hóa chất, đồ vải, ấn chỉ,. và các khoản chi phục vụ gián tiếp như dịch vụ công cộng (DVCC), thuê mướn, sửa chữa thường xuyên, tương ứng với các mục chi từ 6500 đến 7000. 3 Chi mua sắm, sửa Là chi để mua sắm TSCĐ vô hình và TSCĐ dùng cho chữa TSCĐ chuyên môn, sửa chữa lớn TSCĐ, tương ứng với các mục chi từ 9000 đến 9100.
4 Chi khác Là các khoản chi cho tiếp khách, hỗ trợ giải quyết việc làm,. tương ứng với mục chi 7750, 7850 và 8000. Hiệu quả hoạt động tài chính Nghị định 43 quy định kết quả hoạt động tài chính là phần chênh lệch thu lớn hơn chi được sử dụng vào các hoạt động trích lập các quỹ (là số tiền được trích vào các quỹ trên cơ sở kết quả hoạt động hàng năm), trả lương tăng thêm cho CBVC (là khoản trả ngoài các khoản lương, phụ cấp, tiền thưởng,.), trích lập và sử dụng các quỹ (là cách thức sử dụng các quỹ theo qui định Nhà nước) [20]. Nếu như quản lý tài chính trong bối cảnh cơ sở y tế là “Tìm đủ nguồn lực để hoạt động và sử dụng nguồn lực đó một cách tiết kiệm và tối ưu nhất” [41], thì việc đánh giá hiệu quả hoạt động tài chính của bệnh viện ngoài khía cạnh chênh lệch thu chi, trích lập và sử dụng các quỹ, trả lương tăng thêm cho CBVC còn xét đến các khía cạnh như: thực hiện dự toán thu sự nghiệp (là khả năng thực hiện dự toán thu sự nghiệp của bệnh viện trong năm); đầu tư mua sắm, sửa chữa tài sản từ nguồn viện phí (là hình thức bệnh viện sử dụng nguồn thu viện phí để mua sắm, sửa chữa tài sản phục vụ cho các hoạt động) và 8 chất lượng chuyên môn (liên quan đến cơ cấu tổ chức, phương pháp tiến hành hoạt động, tình trạng của người bệnh xuất viện).
Các chính sách ảnh hưởng đến hoạt động tài chính bệnh viện 1. Chính sách thu một phần viện Nhà nước bắt đầu thực hiện sự nghiệp đổi mới từ năm 1986, chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung kém hiệu quả sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa [30]. Đến năm 1989, Việt Nam bắt đầu thực hiện thu một phần viện phí (Quyết định 45/QĐ-HĐBT ngày 24/4/1989) với giá thu thấp theo hình thức thu viện phí bình quân theo ngày điều trị nội trú. Chính sách thu một phần viện phí đang triển khai gồm: - Nghị định 95/1994/NĐ-CP ngày 27/8/1994 (Nghị định 95) của Chính phủ về việc thu một phần viện phí.
- Nghị định 33/1995/NĐ-CP ngày 23/5/1995 của Chính phủ về việc sửa đổi khoản 1 điều 6 của Nghị định 95. - Thông tư liên bộ số 14/TTLB ngày 30/9/1995 của Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội, Ban vật giá chính phủ. - Thông tư liên bộ số 03/2006/TTLB-BYT-BTC-BLĐTB & XH ngày 26/01/2006 bổ sung Thông tư 14. - Thông tư liên bộ số 04/2012/TTLB-BYT-BTC ngày 29/02/2012 Ban hành mức tối đa khung giá một số dịch vụ KCB trong các cơ sở KCB của Nhà nước.
Chính sách qui định thu viện phí là khoản tiền người bệnh phải trả khi KCB tại bệnh viện. Đây là giá thu một phần viện phí do chưa tính đủ cơ cấu chi phí trong giá [11], [12], [13], [14], [15]. Giá thu một phần viện phí là một phần chi phí cho việc KCB chỉ tính trên chi phí trực tiếp (thuốc, máu, hóa chất, dịch truyền,.) chưa tính chi phí gián tiếp (khấu hao TSCĐ, hành chính, đào tạo nghiên cứu khoa học,.