Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nông nghiệp giữ vai trò chủ lực trong nền kinh tế quốc dân của Việt Nam, đóng góp tỷ trọng quan trọng vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và bảo đảm an ninh lương thực. Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là trung tâm sản xuất nông nghiệp trọng điểm, chiếm hơn 1/3 diện tích cây ăn trái của cả nước với nhiều loại đặc sản có giá trị kinh tế. Trong cơ cấu nông nghiệp vùng, tỉnh Hậu Giang sở hữu gần 80.000 ha đất canh tác, diện tích gieo trồng hàng năm đạt xấp xỉ 200.000 ha, tỷ lệ sử dụng giống xác nhận trên 70% và sản lượng lương thực duy trì ổn định 1,2 triệu tấn/năm. Tại thành phố Vị Thanh, giống khóm Cầu Đúc là cây trồng đặc sản chủ lực đã hình thành và phát triển qua nhiều thập kỷ, đặc biệt thích nghi với vùng đất phèn và nhiễm mặn tại địa phương.

Tuy nhiên, quá trình sản xuất và thương mại hóa khóm Cầu Đúc vẫn đối mặt với nhiều rào cản nội tại như thiếu vốn, quy mô manh mún và sự phụ thuộc vào thị trường tự do. Giai đoạn 2020–2022, tác động của đại dịch Covid-19 cùng với các biện pháp giãn cách xã hội đã làm đứt gãy các chuỗi cung ứng nông sản, lưu thông hàng hóa đình trệ, chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng cao và giá nông sản sụt giảm nghiêm trọng. Đồng thời, dịch hại sinh học (điển hình là bệnh héo đỏ lá, chết bụi bùng phát trên diện tích 358 ha) đã làm sụt giảm năng suất và thu nhập của người nông dân. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn này, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điễm đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Kinh doanh nông nghiệp (chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp) nhằm làm rõ tác động của dịch bệnh đến hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng khóm tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mô tả thực trạng sản xuất và tiêu thụ khóm tại Thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
  2. Đánh giá hoạt động sản xuất và tiêu thụ khóm của nông hộ trong dịch bệnh Covid-19 tại Thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và tiêu thụ khóm của nông hộ tại Thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hoạt động sản xuất và tiêu thụ khóm của các nông hộ. Phạm vi không gian được giới hạn tại hai xã Hỏa Tiến và Tân Tiến thuộc thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang – hai địa bàn tập trung diện tích trồng khóm lớn nhất của thành phố với hơn 1.600 ha. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa thu thập số liệu sơ cấp diễn ra từ tháng 03/2022 đến tháng 06/2022, sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2019–2021 và so sánh hiệu quả kinh tế giữa thời điểm trước dịch (2018–2019) với thời điểm bùng phát dịch Covid-19 (2020–2021).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng khung phân tích dựa trên lý thuyết kinh tế nông hộ và lý thuyết kênh phân phối nông sản. Về mặt khái niệm, đề tài tiếp cận định nghĩa nông hộ của Frank Ellis (1993), coi nông hộ là các đơn vị kinh tế tự kiếm kế sinh nhai trên đất đai của mình, sử dụng chủ yếu lao động gia đình, tham gia cục bộ vào các thị trường có mức độ không hoàn hảo cao. Nguồn lực sản xuất của hộ bao gồm vốn (tiếp cận theo quan điểm của Trường Đại học Texas và Iowa, Hoa Kỳ, gồm toàn bộ tiền đầu tư mua sắm, thuê mướn các yếu tố sản xuất như đất đai, máy móc, giống, phân bón, nông dược), lao động gia đình và tư liệu đất đai. Nghiên cứu hệ thống hóa các đặc trưng cơ bản của sản xuất nông nghiệp: mang tính vùng miền sâu sắc, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thể thay thế, đối tượng là sinh vật sống chịu sự chi phối của quy luật sinh học và thời tiết, sản xuất mang tính thời vụ cao.

Về lý thuyết lưu thông và tiêu thụ, đề tài phân loại thị trường nông sản thành các kênh phân phối: kênh phân phối ngắn (kênh không trung gian từ người sản xuất trực tiếp đến người tiêu dùng; kênh một trung gian qua người bán lẻ) và kênh phân phối dài (kênh hai trung gian qua người bán buôn và người bán lẻ; kênh nhiều trung gian). Để đo lường kết quả và hiệu quả kinh tế của nông hộ, khóa luận sử dụng hệ thống các chỉ tiêu tài chính bao gồm:

  • Năng suất: $\text{Năng suất} = \frac{\text{Sản lượng}}{\text{Diện tích}}$ (kg/ha hoặc tấn/ha).
  • Doanh thu (DT): $\text{Doanh thu} = \text{Giá bán thực tế} \times \text{Sản lượng thu hoạch}$.
  • Tổng chi phí (TCP): Bao gồm toàn bộ chi phí vật tư (giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật), chi phí làm đất, chi phí thuê mướn lao động ngoài và chi phí cơ hội của lao động gia đình.
  • Lợi nhuận (LN): $\text{Lợi nhuận} = \text{Tổng doanh thu} - \text{Tổng chi phí}$.
  • Thu nhập gia đình (TN): $\text{Thu nhập} = \text{Doanh thu} - \text{Chi phí không bao gồm lao động gia đình}$.
  • Tỷ số tài chính: Tỷ số Doanh thu/Chi phí ($\frac{\text{DT}}{\text{TCP}}$) và tỷ số Lợi nhuận/Chi phí ($\frac{\text{LN}}{\text{TCP}}$).

Về mặt lược khảo tài liệu, khóa luận đối chiếu các công trình nghiên cứu đi trước về kinh tế nông hộ tại ĐBSCL và các địa phương khác, bao gồm: nghiên cứu sản xuất và tiêu thụ khóm tại Hậu Giang của Nguyễn Quốc Nghi và Lưu Thanh Đức Hải (2009); nghiên cứu tiêu thụ lúa tại Long An của Châu Hoàng Trung (2009); phân tích hiệu quả khoai lang tím tại Vĩnh Long của Diệp Thị Ánh (2011); phân tích chuỗi giá trị bưởi da xanh tại Sóc Trăng theo khung GTZ và M4P của Đoàn Thị Hương (2013); mô hình ca cao Bến Tre của Nguyễn Hữu Tâm (2013); nghiên cứu tiêu thụ sản phẩm sữa của Trần Thị Thúy Nga (2014); và nghiên cứu tác động của Covid-19 đối với sản xuất hành tím tại Quảng Ngãi của Lê Thị Lệ Hằng (2021).

Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu thực tế được tác giả triển khai gồm hai nguồn:

  • Dữ liệu thứ cấp: Được tổng hợp từ báo cáo ngành nông nghiệp giai đoạn 2019 đến tháng 12/2021 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hậu Giang, Trung tâm Khuyến nông tỉnh, Niên giám thống kê thành phố Vị Thanh năm 2021 và thông tin qua phỏng vấn bán cấu trúc các cán bộ chuyên môn.
  • Dữ liệu sơ cấp: Thu thập thông qua khảo sát điều tra trực tiếp 61 nông hộ sản xuất khóm tại hai xã Hỏa Tiến và Tân Tiến bằng bảng câu hỏi soạn sẵn. Quy trình chọn mẫu kết hợp giữa phương pháp phân tầng và ngẫu nhiên. Quy trình xử lý dữ liệu trải qua ba bước: thiết kế bảng hỏi, phỏng vấn trực tiếp tại thực địa kết hợp quan sát, kiểm tra làm sạch dữ liệu và mã hóa trên phần mềm Microsoft Excel.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả (tần số, tỷ trọng, số trung bình, độ biến thiên) và phương pháp so sánh kinh tế để đối chiếu sự thay đổi các chỉ tiêu chi phí, sản lượng, giá bán, doanh thu và lợi nhuận giữa hai thời kỳ trước và trong đại dịch Covid-19.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương này thiết lập tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu dựa trên vị trí của cây khóm Cầu Đúc tại thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang trong bối cảnh chịu tác động tiêu cực của dịch Covid-19. Tác giả xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu chung và 3 mục tiêu cụ thể), giới hạn phạm vi không gian tại hai xã Hỏa Tiến và Tân Tiến, phạm vi thời gian nghiên cứu từ tháng 03/2022 đến tháng 06/2022, đồng thời phác thảo cấu trúc tổng thể gồm 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Tổng quan

Chương 2 trình bày tổng quan lý luận và thực tiễn qua việc tổng thuật 7 công trình nghiên cứu khoa học liên quan trực tiếp đến chuỗi giá trị và hiệu quả kinh tế nông nghiệp. Bên cạnh đó, chương tập trung mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của thành phố Vị Thanh:

  • Vị trí và địa hình: Diện tích tự nhiên toàn thành phố là 11.886,42 ha; địa hình đặc trưng đồng bằng trũng chia thành 3 tiểu vùng sinh thái (vùng triều 2.200 ha, vùng úng triều 16.800 ha và vùng úng nội đồng). Mật độ sông rạch đạt 1,5 km/km².
  • Thổ nhưỡng: Đất đai thành phố chia thành 3 nhóm chính gồm nhóm đất phù sa chiếm 5.002,24 ha (42,08%), nhóm đất phèn chiếm 3.651,45 ha (30,72%) và nhóm đất nhân tác chiếm 2.349,45 ha (19,77%). Hai xã nghiên cứu (Hỏa Tiến và Tân Tiến) tập trung chủ yếu trên nền đất phèn hoạt động và chịu ảnh hưởng xâm nhập mặn.
  • Dân số và kinh tế: Dân số toàn thành phố năm 2019 là 73.322 người (mật độ 618 người/km²), gồm ba dân tộc Kinh, Khmer, Hoa. Diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 9.058,35 ha; trong đó đất cây hàng năm khác (bao gồm khóm) là 2.074,75 ha.

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 làm rõ cơ sở lý thuyết về kinh tế nông hộ, đặc điểm của chuỗi tiêu thụ và các kênh phân phối nông sản. Tác giả thiết lập công thức toán học tính toán các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế (năng suất, doanh thu, chi phí, lợi nhuận, tỷ số DT/TCP, LN/TCP). Đồng thời, chương trình bày chi tiết quy trình chọn mẫu điều tra sơ cấp 61 nông hộ tại 2 xã trọng điểm, mô tả các công cụ phân tích thống kê mô tả và so sánh được vận dụng trong nghiên cứu.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 là phần thực nghiệm trọng tâm của đề tài, tập trung phân tích nguồn dữ liệu khảo sát 61 hộ nông dân trồng khóm:

  • Thực trạng phát triển khóm của địa phương: Diện tích khóm toàn thành phố năm 2019 đạt 1.588 ha (sản lượng 13.298 tấn), năm 2020 tăng lên 2.727 ha (sản lượng 28.327 tấn) và năm 2021 đạt 19.417,86 tấn. Dịch bệnh héo đỏ lá gây hại trên diện tích 358 ha.
  • Đặc điểm nhân khẩu học và nguồn lực của nông hộ khảo sát (n = 61):
    • Giới tính: Nam giới làm chủ hộ chiếm 63,93% (39 hộ), nữ giới chiếm 36,07% (22 hộ).
    • Độ tuổi: Nhóm tuổi từ 45–60 chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,27% (27 hộ); nhóm trên 60 tuổi chiếm 37,70% (23 hộ); nhóm dưới 45 tuổi chiếm 18,03% (11 hộ).
    • Trình độ học vấn: Cấp 1 chiếm đa số với 59,02% (36 hộ); cấp 2 chiếm 24,59% (15 hộ); cấp 3 chiếm 16,39% (10 hộ); không có hộ mù chữ và không có hộ đạt trình độ trên cấp 3.
    • Kinh nghiệm canh tác: Dưới 15 năm chiếm 19,67% (22 hộ); từ 15–30 năm chiếm 37,70% (23 hộ); từ 30–45 năm chiếm 36,07% (22 hộ); trên 45 năm chiếm 6,56% (4 hộ).
    • Quy mô đất đai: Diện tích canh tác $\le 1$ ha chiếm 40,99% (25 hộ); từ 1–2 ha chiếm 39,34% (24 hộ); từ 2–3 ha chiếm 13,11% (8 hộ); trên 3 ha chiếm 6,56% (4 hộ).
  • Phương thức tiêu thụ và tiếp cận tài chính:
    • Kênh tiêu thụ: 68,85% hộ (42 hộ) tiêu thụ qua thương lái; 27,87% hộ (17 hộ) bán cho hợp tác xã (HTX); 3,28% hộ (2 hộ) bán lẻ tại chợ; 0% hộ có công ty ký hợp đồng bao tiêu đầu ra.
    • Ràng buộc hợp đồng: 70,49% hộ (43 hộ) không có hợp đồng trước với người mua; 29,51% hộ (18 hộ) có ký hợp đồng trước. Toàn bộ 18 hộ có hợp đồng (100%) đều chỉ thực hiện bằng hình thức thỏa thuận miệng và đặt cọc tiền mặt, không có hợp đồng văn bản pháp lý.
    • Tín dụng và thu nhập ngoài: 44,26% hộ (27 hộ) vay vốn tín dụng và 44,26% hộ có nguồn thu nhập khác ngoài khóm. Cơ cấu thu nhập bổ sung gồm: trồng trọt cây khác chiếm 44,44% (12 hộ), làm thuê chiếm 40,74% (11 hộ) và công nghiệp/dịch vụ chiếm 14,81% (4 hộ).
  • Đánh giá biến động kinh tế sản xuất và tiêu thụ khóm (tính trên quy mô 1 ha):
Chỉ tiêu kinh tế Đơn vị tính Trước dịch (2018–2019) Trong dịch (2020–2021) Mức độ chênh lệch
Chi phí phân bón 1.000 đồng/ha 3.723 6.991 +3.268
Chi phí thuốc BVTV 1.000 đồng/ha 372 607 +235
Chi phí giống 1.000 đồng/ha 584 559 -25
Chi phí thuê lao động 1.000 đồng/ha 1.300 1.422 +122
Sản lượng thu hoạch kg/ha 1.570 Tăng nhẹ Tăng
Giá bán bình quân 1.000 đồng/kg 10,5 4,6 -5,9
Doanh thu bình quân 1.000 đồng/ha 16.640 9.198 -7.442
Lợi nhuận bình quân 1.000 đồng/ha 10.661 2.207 -8.454

Số liệu thực nghiệm cho thấy đại dịch Covid-19 tác động kép lên nông hộ: chi phí các yếu tố đầu vào gia tăng (đặc biệt chi phí phân bón và thuốc bảo vệ thực vật nhập khẩu tăng mạnh), trong khi giá bán khóm tại vườn giảm hơn một nửa (từ 10.500 đồng/kg xuống 4.600 đồng/kg) do thị trường bị thu hẹp, thương lái hạn chế thu mua, dẫn đến lợi nhuận ròng của nông hộ suy giảm 79,3% so với giai đoạn trước dịch.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương tổng hợp các phát hiện chính về tổn thương kinh tế của nông hộ trồng khóm, từ đó đưa ra các khuyến nghị chính sách:

  • Đối với nông hộ: Chủ động liên kết thành lập và tham gia các HTX để giảm phụ thuộc vào thương lái; quản lý chặt chẽ chi phí đầu vào, ứng dụng các biện pháp sinh học phòng ngừa bệnh héo đỏ lá; thực hiện chuyển đổi phương thức mua bán bằng hợp đồng pháp lý rõ ràng.
  • Đối với Nhà nước và chính quyền địa phương: Hỗ trợ các gói vay tín dụng ưu đãi lãi suất; hướng dẫn kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh; củng cố các mô hình HTX kiểu mới và tăng cường xúc tiến thương mại, kết nối tiêu thụ nông sản bền vững.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng hóa cụ thể mức độ suy giảm hiệu quả sản xuất và tiêu thụ khóm của 61 nông hộ tại thành phố Vị Thanh dưới tác động của dịch Covid-19 thông qua các con số thống kê thực tế:

  • Doanh thu trung bình trên 1 ha sụt giảm mạnh từ 16.640 nghìn đồng (giai đoạn 2018–2019) xuống còn 9.198 nghìn đồng (giai đoạn 2020–2021).
  • Lợi nhuận bình quân của nông hộ trên 1 ha sụt giảm từ 10.661 nghìn đồng xuống chỉ còn 2.207 nghìn đồng, phản ánh sự suy giảm hiệu quả tài chính nghiêm trọng.
  • Giá khóm thương phẩm sụt giảm sâu từ mức 10,5 nghìn đồng/kg xuống còn 4,6 nghìn đồng/kg trong thời kỳ dịch bệnh.
  • Chi phí vật tư đầu vào tăng đột biến: Chi phí phân bón tăng từ 3.723 nghìn đồng/ha lên 6.991 nghìn đồng/ha; chi phí thuốc bảo vệ thực vật tăng từ 372 nghìn đồng/ha lên 607 nghìn đồng/ha; chi phí thuê lao động tăng từ 1.300 nghìn đồng/ha lên 1.422 nghìn đồng/ha.
  • Kênh phân phối tồn tại rủi ro lớn: 68,85% sản lượng phụ thuộc hoàn toàn vào thương lái thu mua tự do; 70,49% hộ không có thỏa thuận bao tiêu; 100% các hộ có thỏa thuận chỉ dựa vào cam kết miệng và tiền đặt cọc ngắn hạn, hoàn toàn vắng bóng hợp đồng liên kết kinh tế bằng văn bản với doanh nghiệp chế biến.

Các giải pháp tác giả đề xuất bám sát vào kết quả điều tra, bao gồm:

  • Tăng cường quy mô kinh tế tập thể thông qua các HTX nông nghiệp kiểu mới, từng bước chuẩn hóa quy trình canh tác khóm nhằm hạ giá thành sản xuất.
  • Đẩy mạnh công tác kiểm soát dịch bệnh sinh học (đặc biệt là 358 ha nhiễm bệnh héo đỏ lá) và mở rộng các kênh tiêu thụ nông sản ổn định thông qua hợp đồng thương mại có giá sàn bảo hộ.
  • Hoàn thiện chính sách hỗ trợ vốn vay từ hệ thống ngân hàng chính sách và các tổ chức tín dụng nhằm hạn chế tình trạng mua chịu vật tư nông nghiệp với giá cao tại các đại lý tư nhân.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước đây: Trong khi các công trình trước (như Nguyễn Quốc Nghi và Lưu Thanh Đức Hải, 2009) chỉ khảo sát khóm Hậu Giang trong điều kiện bình thường, khóa luận này đã bổ sung hệ thống dữ liệu vi mô phản ánh trực tiếp sức chống chịu và cơ chế biến động chi phí - giá bán của nông hộ chuyên canh khóm trong bối cảnh chịu cú sốc ngoại sinh từ đại dịch Covid-19.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn thực tế được xác định từ phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi địa bàn nghiên cứu chỉ giới hạn tại hai xã Hỏa Tiến và Tân Tiến thuộc thành phố Vị Thanh, chưa mở rộng ra các vùng phụ cận có cùng điều kiện thổ nhưỡng sinh thái.
  • Quy mô mẫu dừng lại ở 61 hộ gia đình do thời gian thực hiện nghiên cứu ngắn (khoảng gần 4 tháng, từ tháng 03/2022 đến tháng 06/2022), làm giới hạn mức độ đại diện cho toàn bộ các mô hình canh tác khóm tại tỉnh Hậu Giang.
  • Phương pháp phân tích dữ liệu sơ cấp chủ yếu dựa trên kỹ thuật thống kê mô tả và so sánh cặp số học, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng định lượng chuyên sâu (như hồi quy đa biến OLS phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận hay mô hình phân tích hiệu quả kỹ thuật DEA) để kiểm định độ tin cậy thống kê của các biến số.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng quy mô chọn mẫu, áp dụng các hàm sản xuất Cobb-Douglas hoặc mô hình Logistic để phân tích quyết định tham gia liên kết chuỗi giá trị của nông hộ, đồng thời khảo sát thêm các tác nhân trung gian (thương lái, hợp tác xã, doanh nghiệp chế biến đồ hộp xuất khẩu) nhằm đánh giá toàn diện chuỗi giá trị khóm sau thời kỳ dịch bệnh.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu học thuật hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên cao học thuộc các ngành Kinh tế nông nghiệp, Kinh doanh nông nghiệp, Phát triển nông thôn và Quản lý kinh tế cần tài liệu tham khảo về phương pháp xây dựng bảng hỏi điều tra nông hộ và quy trình tính toán hiệu quả kinh tế cây trồng.
  • Cán bộ quản lý ngành nông nghiệp, cán bộ khuyến nông tại địa phương và các nhà hoạch định chính sách tại thành phố Vị Thanh và tỉnh Hậu Giang trong việc xây dựng phương án phục hồi chuỗi cung ứng khóm Cầu Đúc.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao bao gồm: Bảng tổng hợp chi tiết cơ cấu chi phí sản xuất khóm (Bảng 4.12), phân tích cấu trúc kênh phân phối thực tế qua thương lái và hợp tác xã, cùng hệ thống câu hỏi khảo sát nông hộ được tác giả thiết kế trong phần phụ lục.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu nhân khẩu học và kinh nghiệm canh tác của các nông hộ trồng khóm tại thành phố Vị Thanh có đặc điểm gì nổi bật?
Dữ liệu khảo sát từ 61 nông hộ cho thấy đa số chủ hộ là nam giới (chiếm 63,93%), độ tuổi tập trung lớn nhất ở nhóm trung niên từ 45 đến 60 tuổi (chiếm 44,27%) và trên 60 tuổi (chiếm 37,70%). Về học vấn, 59,02% nông hộ chỉ đạt trình độ cấp 1. Người trồng khóm có thâm niên nghề nghiệp rất cao với 73,77% hộ có kinh nghiệm trên 15 năm (trong đó nhóm 15–30 năm chiếm 37,70% và nhóm 30–45 năm chiếm 36,07%), chủ yếu sản xuất trên diện tích đất tự có dưới 2 ha (chiếm 80,33%).

2. Hiệu quả tài chính của việc sản xuất khóm biến động như thế nào giữa giai đoạn trước và trong đại dịch Covid-19?
Hiệu quả kinh tế của nông hộ giảm sút nghiêm trọng: Doanh thu trung bình trên 1 ha giảm từ 16.640 nghìn đồng xuống còn 9.198 nghìn đồng (giảm 44,7%). Lợi nhuận ròng trên 1 ha giảm mạnh từ 10.661 nghìn đồng xuống còn 2.207 nghìn đồng (sụt giảm 79,3%). Nguyên nhân do giá bán khóm tại vườn bị ép giảm sâu từ 10,5 nghìn đồng/kg xuống 4,6 nghìn đồng/kg, trong khi các khoản chi phí vật tư đồng loạt tăng cao.

3. Khâu tiêu thụ khóm của nông hộ được thực hiện chủ yếu qua các kênh nào và có ràng buộc pháp lý ra sao?
Nông hộ chủ yếu bán sản phẩm cho thương lái tự do (chiếm 68,85%), bán qua hợp tác xã chiếm 27,87% và bán lẻ tại chợ chiếm 3,28%; hoàn toàn không có doanh nghiệp thu mua bao tiêu đầu ra. Có tới 70,49% nông hộ không ký hợp đồng thu mua trước. Đối với 29,51% số hộ có ký thỏa thuận trước thì 100% đều là hình thức thỏa thuận bằng miệng và đặt cọc tiền mặt, không có bất kỳ văn bản hợp đồng ràng buộc pháp lý nào.

4. Yếu tố chi phí sản xuất nào chiếm tỷ trọng cao nhất và chịu biến động lớn nhất trong giai đoạn dịch bệnh?
Chi phí phân bón chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu chi phí sản xuất (chiếm khoảng 40–45% giá trị đầu vào). Dưới tác động của dịch Covid-19 làm tăng giá vật tư nông nghiệp nhập khẩu, chi phí phân bón trên 1 ha đã tăng từ 3.723 nghìn đồng (trước dịch) lên 6.991 nghìn đồng (trong dịch), tăng thêm 3.268 nghìn đồng/ha. Ngoài ra, chi phí thuốc bảo vệ thực vật cũng tăng từ 372 nghìn đồng lên 607 nghìn đồng/ha.

5. Nông hộ tại địa bàn nghiên cứu bổ sung nguồn thu nhập từ các hoạt động nào ngoài cây khóm?
Qua khảo sát, có 44,26% số hộ (27 hộ) có thêm nguồn thu nhập phụ ngoài hoạt động canh tác khóm. Trong nhóm 27 hộ này, nguồn thu nhập bổ sung chủ yếu đến từ hoạt động trồng trọt các loại cây trồng khác ngoài khóm (chiếm 44,44%) và đi làm thuê thời vụ (chiếm 40,74%); có 14,81% hộ có thêm nguồn thu từ tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, không có hộ nào ghi nhận thu nhập từ chăn nuôi hoặc trợ cấp xã hội.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Điễm đã cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về sự suy giảm hiệu quả kinh tế của nông hộ trồng khóm Cầu Đúc tại thành phố Vị Thanh dưới tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 và dịch bệnh héo đỏ lá. Nghiên cứu chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất trong chuỗi cung ứng là sự phụ thuộc nặng nề vào thương lái tự do (68,85%) cùng sự thiếu vắng các hợp đồng bao tiêu mang tính pháp lý, khiến nông dân chịu rủi ro ép giá khi thị trường đứt gãy. Kết quả phân tích chi phí - lợi nhuận và các giải pháp đề xuất về liên kết hợp tác xã, hỗ trợ tín dụng và kiểm soát dịch hại là nguồn tư liệu có giá trị khoa học và thực tiễn đối với sự phát triển bền vững của ngành hàng khóm tại tỉnh Hậu Giang.