CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - CHI NHÁNH HOÀNG MAI 1. Khái quát về Ngân hàng TMCPCTVN - Chi nhánh Hoàng Mai 1. Sự ra đời và phát triển của Ngân hàng TMCPCTVN - Chi nhánh Hoàng Mai Ngân hàng TMCPCTVN - Chi nhánh Hoàng Mai là một chi nhánh của Ngân hàng CTVN, có trụ sở chính đặt tại số 2 - số 4 Kim Đồng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, được thành lập ngày 10/11/2006 theo Quyết định số 269/QĐ - HĐQT của Ngân hàng CTVN. Hơn 3 năm kể từ khi là chi nhánh của Ngân hàng CTVN, Ngân hàng TMCPCTVN - Chi nhánh Hoàng Mai đã có những bước trưởng thành và phát triển vượt bậc, khẳng định vị thế vững vàng trong giai đoạn cạnh tranh gay gắt.
Chi nhánh luôn phấn đấu để có thể đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng. Song song với việc mở rộng thị trường, Chi nhánh không ngừng nâng cao chất lượng các nghiệp vụ của mình và đa dạng hóa các dịch vụ đến mức có thể. Kết quả là dự nợ và nguồn vốn tăng nhanh, chất lượng và cơ cấu khách hàng có nhiều thay đổi, cụ thể là trong những năm gần đây tại Chi nhánh tỷ lệ phát sinh các khoản nợ quá hạn là rất ít, các khoản vay hầu hết đều được thu hồi khi đến hạn. Bộ máy tổ chức, chức năng, nhiệm vụ 1.
Bộ máy tổ chức Hiện nay, Ngân hàng TMCPCTVN – Chi nhánh Hoàng Mai gồm có các phòng ban: Phòng Tổ chức hành chính, Tổ Tổng hợp, Tổ Thông tin điện toán, Tổ Thẻ, Phòng Khách hàng doanh nghiệp, Phòng Khách hàng cá nhân, Quỹ Tiền gửi, Phòng Kế toán, Phòng Tiền tệ kho quỹ, Phòng Quản lý rủi ro, SV: Nguyễn Thị Trúc Phi 3 Lớp: TMQT 48 Chuyên đề cuối khóa GVHD: ThS.Hoàng Hương Giang Phòng Giao dịch. Các phòng ban này có mối quan hệ chặt chẽ, phối hợp với nhau để thực hiện tốt các hoạt động của Ngân hàng. Cơ cấu bộ máy tổ chức của Ngân hàng được thể hiện qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Cơ cấu bộ máy tổ chức của Ngân hàng TMCPCTVN Chi nhánh Hoàng Mai Ban Giám Đốc Các Khối Nghiệp Vụ Các Phòng Giao Dịch Khối Hỗ TrợKhối Kinh Doanh Khối Tác Nghiệp Khối Quản Lý Rủi PGDRoĐịnh Công PGD Trương PGD Định Nam Hà Nội P.Tổ Chức Hành P. Khách Chính Hàng Doanh Nghiệp P.
Quản Lý Rủi Ro Tổ P. Khách Hàng CáP.Nhân Tiền Tệ Kho Quỹ Tổng Hợp Tổ Thông Tin Điện Toán. Quỹ Tiền Gửi Tổ Thẻ SV: Nguyễn Thị Trúc Phi 4 Lớp: TMQT 48 Chuyên đề cuối khóa GVHD: ThS.Hoàng Hương Giang Nguồn: Giới thiệu chung về Ngân hàng TMCPCTVN - Chi nhánh Hoàng Mai 1. Chức năng, nhiệm vụ Phòng Khách hàng doanh nghiệp: Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các doanh nghiệp để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ, thực hiện các nghiệp vụ có liên quan đến tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng CTVN; trực tiếp quảng cáo, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp.
Hiện nay, Phòng Thanh toán quốc tế đã được sáp nhập vào Phòng Khách hàng doanh nghiệp, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh đối ngoại : mở L/C cho khách hàng, thanh toán L/C, thu đổi và mua bán ngoại tệ, thanh toán thẻ tín dụng quốc tế. Kinh doanh ngoại tệ trong nước chủ yếu gồm ba nghiệp vụ chủ yếu : mua ngoại tệ, bán ngoại tệ, chuyển đổi ngoại tệ trong nước. Phòng Khách hàng cá nhân: Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là cá nhân, để khai thác vốn bằng VND và ngoại tệ; thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng CTVN; trực tiếp quảng cáo, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các cá nhân. Phòng Quản lý rủi ro: Là phòng nghiệp vụ có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc chi nhánh; quản lý giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư, đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng; thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng; thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt động Ngân hàng theo chỉ đạo của Ngân hàng CTVN.
Chịu trách nhiệm về quản lý, xử lý nợ xấu (nợ nhóm 3, nhóm 4, nhóm 5 theo phân loại nợ), nợ đã xử lý rủi ro, nợ được Chính phủ xử lý; là đầu mối khai thác tài sản đảm bảo tiền vay theo quyi định của Nhà nước nhằm thu hồi nợ xấu. Phòng Kế toán: Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng, các nghiệp vụ và công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử SV: Nguyễn Thị Trúc Phi 5 Lớp: TMQT 48 Chuyên đề cuối khóa GVHD: ThS.Hoàng Hương Giang lý, hạch toán các giao dịch. Quản lý và chịu trách nhiệm đối với hệ thống giao dịch trên máy, quản lý quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của Nhà nước và Ngân hàng CTVN. Thực hiện nhiệm vụ tư vấn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm của Ngân hàng.
Phòng Giao dịch: Có nhiệm vụ huy động vốn và đầu tư cho vay mọi thành phần kinh tế, thanh toán, chuyển tiền, mở L/C cho khách hàng. Phòng Tổ chức hành chính: Là phòng nghiệp vụ thực hiện công tác tổ chức cán bộ đào tạo tại Chi nhánh theo đúng chủ trương chính sách của Nhà nước, thực hiện công tác quản trị và văn phòng phục vụ hoạt động kinh doanh tại chi nhánh, thực hiện công tác bảo vệ an ninh toàn Chi nhánh. Tổ Tổng hợp: Tổ nghiệp vụ tham mưu cho giám đốc chi nhánh dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động của Chi nhánh, thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của Chi nhánh. Tiếp thị, hỗ trợ, chăm sóc khách hàng về dịch vụ thẻ, dịch vụ ngân hàng điện tử.
Thực hiện công tác phát triển mạng lưới của Chi nhánh, thực hiện công việc liên quan đến triển khai áp dụng và duy trì hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 tại Chi nhánh. Phòng Tiền tệ kho quỹ: Phòng quản lý an toàn kho quỹ, quản lý tiền mặt theo quy định của NHNN và Ngân hàng CTVN: ứng và thu tiền cho các quỹ tiết kiệm, các điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi cho các doanh nghiệp có thu , chi tiền mặt lớn. Tổ Thông tin điện toán: Thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán tại Chi nhánh, bảo trì, bão dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống mạng máy tính của Chi nhánh. Kết quả hoạt động của Ngân hàng trong những năm vừa qua 1.
Huy động vốn Ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ. Huy động vốn là một trong những hoạt động chính của Ngân hàng.Ý thức được tầm quan trọng trong việc khai thác các nguồn vốn, Ngân hàng TMCPCTVN SV: Nguyễn Thị Trúc Phi 6 Lớp: TMQT 48 Chuyên đề cuối khóa GVHD: ThS.Hoàng Hương Giang – Chi nhánh Hoàng Mai luôn coi công tác huy động vốn là nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động kinh doanh của mình. Yêu cầu đặt ra đối với công tác huy động vốn của Ngân hàng là tận dụng khai thác nguồn vốn với chi phí hợp lý nhất , cơ cấu phù hợp, đảm bảo tính thường xuyên, liên tục nhằm phục vụ hiệu quả cho việc cấp tín dụng của Ngân hàng. Mặc dù Chi nhánh mới hoạt động được hơn ba năm nhưng đã có các quỹ tiết kiệm được bố trí trên khắp địa bàn quận một cách hợp lý.
Với phong cách phục vụ văn minh, lịch sự, tận tình và chu đáo, Chi nhánh đã tạo được sự tin tưởng cho khách hàng, vì vậy đã thu hút được một lượng tiền gửi khá lớn. Tình hình huy động vốn của Chi nhánh trong các năm qua được thể hiện cụ thể trong bảng dưới đây.1: Tình hình huy động vốn tại Ngân hàng TMCPCTVN Chi nhánh Hoàng Mai giai đoạn 2007 – 2009 Đơn vị: Tỷ đồng Tiền gửi các tổ Tiền gửi Nguồn Chỉ tiêu chức kinh tế dân cư vốn Năm 2007 22,5 178,5 201 Tỷ lệ (%) 11,19 88,81 100 Năm 2008 40,5 265,5 306 Tỷ lệ (%) 13,24 86,76 100 Năm 2009 74,85 359,85 434,7 Tỷ lệ (%) 17,24 82,76 100 2008 so với Chênh lệch (tỷ đồng) 20 87 105 2007 Tốc độ tăng (%) 80 48,74 52,24 2009 so với Chênh lệch (tỷ đồng) 34,35 94,35 128,7 2008 Tốc độ tăng (%) 84,8 35,5 42,1 Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh giai đoạn 2007 - 2009 Ngân hàng TMCPCTVN - Chi nhánh Hoàng Mai Ngân hàng huy động vốn từ hai nguồn chính là các tổ chức kinh tế và dân cư. Trong đó lượng tiền gửi dân cư chiếm tỷ trọng lớn hơn hẳn so với lượng tiền gửi từ các tổ chức kinh tế.Tuy nhiên tỷ trọng của vốn huy động từ dân cư ngày càng giảm cùng với sự tăng dần trong tỷ trọng vốn huy động từ SV: Nguyễn Thị Trúc Phi 7 Lớp: TMQT 48 Chuyên đề cuối khóa GVHD: ThS.Hoàng Hương Giang các tổ chức kinh tế: năm 2007, 2008, 2009 tỷ trọng vốn dân cư lần lượt giảm từ 88,81 % xuống 86,76 % và còn 82,76 % trong khi tỷ trọng vốn dân cư lần lượt tăng dần từ 11,19 % lên 13,24 % và tăng đến 17,24 %. Điều này cho thấy xu hướng thay đổi trong cơ cấu vốn huy động của Ngân hàng là giảm dần tỷ trọng vốn huy động từ dân cư và tăng dần tỷ trọng vốn huy động từ các tổ chức kinh tế.
Số vốn huy động của Ngân hàng ngày càng tăng lên theo các năm với tốc độ tăng lên rất cao. Tổng vốn huy động trong các năm 2007, 2008, 2009 lần lượt là 201 tỷ đồng, 306 tỷ đồng, 434,7 tỷ đồng. Số vốn huy động trong năm 2008 tăng so với năm 2007 là 105 tỷ đồng tương ứng với tốc độ tăng là 52,24 %. Số vốn huy động trong năm 2009 tăng so với năm 2008 là 128,7 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng là 42,1 %.
Đặc biệt, nguồn vốn huy động từ các tổ chức kinh tế có sự gia tăng rất lớn trong năm sau so với năm trước đó. Cụ thể là năm 2008 so với năm 2007 tăng 20 tỷ đồng tương ứng với tốc độ tăng 80 %, năm 2009 so với năm 2008 tăng 34,35 tỷ đồng tương ứng tốc độ tăng 84,8 %.