CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đất nông nghiệp và phát triển nông nghiệp bền vững 1. Khái quát về đất nông nghiệp Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thủy sản.
Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc sử dụng để nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp và còn được gọi là ruộng đất, còn đất sản xuất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất cây hàng năm, đất sản xuất cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả. Trong nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội. Ở nước ta với hơn 70% dân số làm nông nghiệp nên vấn đề phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước (Lê Du Phong, 2007). Vì vậy, việc quản lý, sử dụng đất đai nói chung cũng như đất sản xuất nông nghiệp nói riêng một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội.
Tại Việt Nam, đất nông nghiệp được định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: h 5 - Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác; - Đất trồng cây lâu năm; - Đất rừng sản xuất; - Đất rừng phòng hộ; - Đất rừng đặc dụng; - Đất nuôi trồng thủy sản; - Đất làm muối; - Đất nông nghiệp khác gồm đất sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép; đất trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản cho mục đích học tập, nghiên cứu thí nghiệm; đất ươm tạo cây giống, con giống và đất trồng hoa, cây cảnh. Phát triển nông nghiệp bền vững Sử dụng đất một cách hiệu quả, bền vững luôn là mong muốn cho sự tồn tại và tương lai phát triển của loài người, chính bởi vậy việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất thích hợp, bền vững đã được nhà nghiên cứu đất và các tổ chức quốc tế rất quan tâm và không ngừng hoàn thiện theo sự phát triển của khoa học. Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” (Sustainable land use) đã trở thành khá thông dụng trên thế giới hiện nay.
Nội dung của sử dụng đất bền vững bao hàm một vùng trên bề mặt trái đất với tất cả các đặc trưng: khí hậu, địa hình, thổ nhưỡng, chế độ thủy văn, thực vật và động vật và cả những hoạt động cải thiện quản lý đất đai như các hệ thống tiêu nước, xây dựng đồng ruộng… do đó thông qua hoạt động thực tiễn sử dụng đất đai, chúng ta phải xác định những vấn đề liên quan đến yếu tố tác động đến khả năng bền vững đất đai trên phạm vi cụ thể của từng vùng, để tránh những sai lầm trong sử dụng đất, đồng thời hạn chế được những tác hại đối với môi trường sinh thái. h 6 Sử dụng đất nông nghiệp bền vững đồng nghĩa với việc phải xây dựng một hệ thống nông nghiệp bền vững. Nông nghiệp bền vững là một hệ thống thiết kế để tạo môi trường bền vững cho cuộc sống của con người. Có rất nhiều định nghĩa về phát triển nông nghiệp bền vững.
Theo FAO (1990), phát triển nông nghiệp bền vững (PTNNBV) là quá trình quản lý và duy trì sự thay đổi về tổ chức, kỹ thuật và thể chế cho nông nghiệp phát triển nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người về nông phẩm và dịch vụ vừa đáp ứng nhu cầu của mai sau. Theo Dumaski (2000) nền tảng của nông nghiệp bền vững là duy trì tiềm năng sản xuất sinh học, đặc biệt là duy trì chất lượng đất, nước và đa dạng sinh học. Nông nghiệp bền vững đạt được nhờ 3 yếu tố: (1) quản lý đất bền vững; (2) công nghệ sản xuất được cải tiến và (3) nâng cao hiệu quả kinh tế. Trong đó, quản lý, sử dụng đất bền vững chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu trong nông nghiệp bền vững (Nguyễn Vy, 1992).
Richard (1990) đưa ra định nghĩa: “nông nghiệp bền vững là một nền nông nghiệp trong đó các hoạt động của các tổ chức kinh tế từ việc lập kế hoạch, thực hiện và quản lý các quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp đều hướng đến bảo vệ và phát huy lợi ích của con người và xã hội”. Theo khái niệm này, nông nghiệp bền vững nghiên cứu theo ba khía cạnh kinh tế - xã hội và môi trường nhằm đạt ba mục tiêu: kinh tế (năng suất, chất lượng, hiệu quả); xã hội (xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội, nâng cao giá trị văn hóa, tinh thần) và môi trường (trong sạch, không bị ô nhiễm). Theo quan điểm của Bill Mollison và Remy Mia Slay, 1994: mục đích của phát triển nông nghiệp bền vững là kiến tạo một hệ thống bền vững về mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thỏa mãn những nhu cầu của con người mà không bóc lột tài nguyên, không làm ô nhiễm môi trường. Để đạt được mục đích đó phải dựa vào (1) sự khảo sát các hệ sinh thái tự nhiên, (2) kinh nghiệm quý báu của các hệ canh tác truyền thống và (3) h 7 những kiến thức khoa học, kỹ thuật canh tác hiện đại.
Sự phát triển bền vững trong nông nghiệp chính là sự bảo tồn đất, nước, động thực vật, không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội (Trần An Phong, 1995). Theo Lê Du Phong (1996), nội dung của nền nông nghiệp bền vững bao gồm: (1) Một nền nông nghiệp biết giữ gìn, phát triển bồi dưỡng và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên của nông nghiệp, đặc biệt là đất và nguồn nước. (2) Một nền nông nghiệp có trình độ thâm canh cao, biết kết hợp hài hoà giữa việc sử dụng các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến, nhất là công nghệ sinh học với kinh nghiệm và truyền thống sản xuất của người nông dân để tạo ra ngày càng nhiều các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng tốt cung cấp cho xã hội. (3) Một nền nông nghiệp sạch, biết hạn chế một cách tối đa việc sử dụng các chất hoá học có hại đến môi sinh, môi trường và sức khoẻ con người.
Kết hợp một cách hài hoà việc phát triển sản xuất với bảo vệ và tôn tạo môi trường. Các sản phẩm do nông nghiệp làm ra cung cấp cho người tiêu dùng phải là những sản phẩm sạch, có tác dụng tăng cường nhanh sức khoẻ con người. (4) Một nền nông nghiệp có cơ cấu cây trồng và vật nuôi hợp lý, phù hợp với đặc điểm và điều kiện tự nhiên của mỗi vùng. Cơ cấu này phải bảo đảm cho nông nghiệp khai thác được tối đa lợi thế so sánh, bảo đảm cho nông nghiệp phát triển toàn diện với tốc độ nhanh.
(5) Sự bền vững theo khái niệm kinh tế ám chỉ một mối quan hệ ổn định và thoả mãn giữa sản xuất nông nghiệp và tiêu dùng. Ngoài ra, còn nhiều các tổ chức đang phối hợp chặt chẽ để nghiên cứu, phát triển một khung quốc tế cho việc đánh giá quản lý đất bền vững nói h 8 chung. Khung đánh giá này thể hiện ở năm thuộc tính (1) tính sản xuất hiệu quả (2) tính an toàn (3) tính bảo vệ (4) tính lâu dài và (5) tính chấp nhận (Smyth và Dumanski, 1993). Phát triển nông nghiệp bền vững cần dựa trên các tiêu chí như: tốt về môi trường, có hiệu quả kinh tế, phù hợp với nhu cầu xã hội, nhạy cảm về văn hoá, áp dụng công nghệ thích hợp, có cơ sở khoa học hoàn thiện và đem lại sự phát triển chung cho cộng đồng.
Như vậy, trong sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không bị suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, các sinh vật. * Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp Sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Sử dụng đất nông nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp không chỉ là nhiệm vụ của mỗi doanh nghiệp, mỗi người sản xuất mà là của mọi ngành, mọi vùng.
Đây còn là vấn đề mang tính toàn cầu, vì xu hướng chung của thế giới hiện nay là phát triển kinh tế theo chiều sâu, sao cho nguồn lực hạn chế mà sản xuất ra một lượng sản phẩm hàng hoá có giá trị sử dụng cao nhất với mức hao phí ít nhất. * Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững Theo quan điểm và nguyên tắc FAO thì sử dụng đất bền vững áp dụng vào điều kiện ở Việt Nam cần phải thể hiện ở ba nguyên tắc sau: - Bền vững về mặt kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được h 9 thị trường chấp nhận. Hệ thống sử dụng đất phải có chức năng xuất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai. Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả.và tàn dư để lại).