Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp 1.1 Khái niệm Đất nông nghiệp (ký hiệu là NNP) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [17].2 Phân loại đất nông nghiệp Đất nông nghiệp gồm: Đất sản xuất nông nghiệp: Là đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp. Bao gồm đất trồng cây hàng năm và đất trồng cây lâu năm. Đất trồng cây hàng năm: Là đất chuyên trồng các loại cây có thời hạn sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một năm, chủ yếu để trồng màu, hoa, cây thuốc, mía, đay, gai, cói, sả, dâu tằm, cỏ không dùng trong chăn nuôi.
Đất trồng cây lâu năm: Là đất trồng các loại cây có thời gian sinh trưởng trên một năm, từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch, kể cả cây có thời gian sinh trưởng như cây hàng năm, nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như cây thanh long, dứa, nho… Đất lâm nghiệp: Là đất có rừng tự nhiên hoặc có rừng trồng, đất khoanh nuôi phục hồi rừng (đất đã giao, cho thuê để khoanh nuôi, bảo vệ nhằm phục hồi rừng bằng hình thức tự nhiên là chính), đất để trồng rừng mới (đất đã giao, cho thuê để trồng rừng và đất có cây rừng mới trồng chưa đạt tiêu chuẩn rừng). Theo loại rừng lâm nghiệp bao gồm: đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng. Đất nuôi trồng thuỷ sản: Là đất được sử dụng chuyên vào mục đích nuôi, trồng thuỷ sản, bao gồm đất nuôi trồng nước lợ, mặn và đất chuyên nuôi trồng nước ngọt. Đất làm muối: Là đất ruộng để sử dụng vào mục đích sản xuất muối.
n 5 Đất nông nghiệp khác: Là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính (vườn ươm) và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt, kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, đất để xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng nhà kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp [5]. Vai trò và ý nghĩa của đất nông nghiệp Trong nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được. Đất đai đóng vai trò quyết định cho sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội. Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng.
Đất đai là đối tượng lao động vì đất đai chịu sự tác động của con người trong quá trình sản xuất như: cày, bừa, xới… để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển. Đất đai là tư liệu lao đông vì đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động. Con người sử dụng đất đai để trồng trọt và chăn nuôi. Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp.
Với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống mà còn là nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng [14]. Năng suất cây trồng, vật nuôi phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng đất đai. Trên phương diện này, đất đai phát huy tác dụng như một công cụ lao động. Việc quản lý và sử dụng tốt đất đai sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế, chính trị và xã hội.
Chính sách đất đai đúng đắn có tác dụng quyết định đến sự thành công của các chính sách kinh tế khác. Vì thế, người sử dụng đất cần phải bảo vệ, và quản lý đất đai một cách đúng hướng, có hiệu quả, sẽ góp phần làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế chính trị và xã hội [9]. Đặc điểm của đất đai 1. Đất đai là sản phẩm tự nhiên Đất đai là sản phẩm tự nhiên.
Đất đai xuất hiện và tồn tại ngoài ý muốn chủ quan của con người. Tuy nhiên, thông qua lao động, con người làm tăng giá trị của đất đai và độ phì nhiêu của nó, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của n 6 con người. Vì thế, việc quản lý và sử dụng đất đai tuỳ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, việc quản lý và sử dụng đất đai đã được khẳng định trong luật đất đai năm 1993 và luật đất đai được bổ sung và sửa đổi năm 2003: "Đất đai thuộc quyền sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.
Nhà nước giao cho các tổ chức, các đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài". Tuy nhiên, luật đất đai cũng khẳng định quyền sử dụng đất đai sẽ thuộc người sản xuất, nông dân có quyền sử dụng, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp và cho thuê. Diện tích đất có hạn Diện tích có hạn trước hết là do giới hạn bởi mặt địa cầu, chỉ có khoảng 1/4 diện tích là đất liền còn khoảng 3/4 diện tích là đại dương. Diện tích đất có hạn do giới hạn trong từng phạm vi lãnh thổ của mỗi quốc gia theo ranh giới mà lịch sử đã định, và sự có hạn về diện tích đất của sản xuất nông nghiệp còn thể hiện khả năng có hạn về khai hoang, tăng vụ trong từng điều kiện cụ thể.
Đặc điểm này ảnh hưởng đến việc mở rộng quy mô của sản xuất nông nghiệp. Quỹ đất đai dùng vào sản xuất nông nghiệp là có hạn và ngày càng trở nên khan hiếm do nhu cầu ngày càng cao về đất đai của việc đô thị hoá, hiện đại hoá và xây dựng nhà ở để đáp ứng với dân số ngày càng tăng. Vì thế trong dài hạn đường cung đất đai là đường thẳng đứng, còn trong ngắn hạn đường cung về đất đai trên thị trường vẫn là đường xiên tỷ lệ thuận theo giá đất (nó phản ánh mối quan hệ diện tích một loại đất nào đó có thể bán ra thị trường ứng với một giá đất nhất định ở những thời điểm xác định) [17]. Đất đai nông nghiệp nếu được sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của nó không ngừng tăng lên Nét đặc biệt của đất đai là tư liệu sản xuất ở chỗ, nó khác các tư liệu sản xuất khác ở quá trình sử dụng: các tư liệu sản xuất khác khi sử dụng sẽ bị hao mòn và hỏng đi, còn đất đai nếu sử dụng hợp lý sẽ tốt hơn lên.
Đặc điểm này là do đất đai có độ phì nhiêu. Tuỳ theo mục đích khác nhau, người ta chia độ phì nhiêu của đất ra thành các loại sau: độ phì nguyên thủy, độ phì tự nhiên, độ phì nhân tạo, độ phì tiềm tàng và độ phì nhiêu kinh tế. Độ phì nguyên thuỷ là độ phì có từ khi hình thành trái đất. Độ phì tự nhiên là do kết n 7 quả của quá trình phong hóa tự nhiên.
Độ phì nhân tạo là do kết quả của sự tác động ý thức của con người, bằng cách áp dụng hệ thống canh tác hợp lý (cày, bừa, bón phân, luân canh cây trồng và tưới tiêu) có căn cứ khoa học để thoả mãn mục đích của con người. Độ phì nhiêu tiềm tàng là hàm lượng các chất dinh dưỡng đất tính ở thời điểm nào đó. Nó là kết quả của sự tác động tổng hợp của các nhân tố tự nhiên, con người. Độ phì nhiêu kinh tế là độ phì nhiêu mà con người đã khai thác sử dụng cho mục đích kinh tế thông qua sự hấp thụ và chuyên môn hoá của cây trồng sau một quá trình sản xuất.
Ngoài ra, người ta còn chia độ phì nhiêu của đất thành độ phì nhiêu tuyệt đối và độ phì nhiêu tương đối. Độ phì nhiêu của đất là một tiêu thức quan trọng để đánh giá kinh tế đất, phân hạng đất và bố trí hợp lý cây trồng, vật nuôi để vừa khai thác tốt đất đai vừa giữ gìn và bảo vệ đất. Từ đặc điểm này trong nông nghiệp cần phải: + Quản lý đất đai một cách chặt chẽ theo luật định. + Phân loại đất đai một cách chặt chẽ theo quy định.
+ Bố trí sản xuất nông nghiệp một cách chính xác. +Thực hiện chế độ canh tác thích hợp để tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ tài nguyên đất [7]. Vị trí của đất đai là cố định Trong khi các tư liệu sản xuất khác được sử dụng, chúng có thể được di chuyển từ vị trí không thuận lợi sang vị trí thuận lợi hơn, thì với đất đai lại ngược lại. Chúng ta không thể di chuyển đất đai theo ý muốn mà chỉ có thể canh tác trên đất đai ở những nơi có đất mà thôi.
Vị trí cố định đã quy định tính chất vật lý, hoá học, sinh thái của đất đai và cũng góp phần hình thành nên những lợi thế so sánh nhất định về sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, cần phải bố trí sản xuất hợp lý cho từng vùng đất phù hợp với lợi thế so sánh của mỗi vùng, thực hiện phân bố quy hoạch đất đai cho các mục tiêu sử dụng một cách thích hợp, xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống thuỷ lợi, giao thông cho từng vùng để tạo điều kiện sử dụng đất tốt hơn [17]. Tính không đồng nhất Đất đai không đồng nhất về mặt chất và hàm lượng dinh dưỡng, các tính chất lý hóa (quyết định bởi yếu tố hình thành đất cũng như chế độ sử n 8 dụng đất khác nhau). Các tư liệu sản xuất khác có thể đồng nhất về chất lượng, quy cách, tiêu chuẩn nhưng chỉ mang tính tương đối và do quy trình công nghệ quyết định [9].
Nguyên tắc sử dụng đất đai 1. Đất đai cần được sử dụng đầy đủ và hợp lý Sử dụng đầy đủ có nghĩa là đất đai được sử dụng hết: không có diện tích đất bị bỏ hoang hoá, nhất là đất canh tác, càng trồng nhiều vụ trong năm càng tốt. Xen canh, gối vụ để tăng hệ số sử dụng là biện pháp khai thác triệt để quỹ đất.