MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Đất đai là nền tảng để con người định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội, nó không chỉ là đối tượng lao động mà còn là tư liệu sản xuất không thể thay thế được, đặc biệt là đối với ngành sản xuất nông nghiệp, đất là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất đất nông nghiệp, đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra những lương thực thực phẩm nuôi sống con người. Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho tương lai.
Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực và thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội. Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thảo mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó. Như vậy đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích nhưng lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và sự thiếu ý thức của con người trong quá trình sản xuất. Đó còn chưa kể đến sự suy giảm về diện tích đất nông nghiệp do quá trình đô thị hóa đang diễn ra mạnh mẽ, trong khi khả năng khai hoang đất mới lại rất hạn chế.
Do vậy, việc đánh giá hiệu quả để sử dụng hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nước có nền kinh tế nông nghiệp chủ yếu như ở Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Xã Quảng Nham là một trong 25 xã của huyện Quảng Xương. Nền kinh tế của xã đang trên đà phát triển, nền nông nghiệp của xã Quảng Nham phần lớn vẫn mang tính truyền thống, nguồn thu chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp.
Chính vì vậy mà công tác đánh giá hiệu quả sử dụng đất là rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế và đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, bền vững ở hiện tại và tương lai trên địa bàn xã.Vì vậy, việc định hướng cho người dân trong xã khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất nông nghiệp là một trong những vấn đề hết sức 1 cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Để giải quyết vấn đề này thì việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm đề xuất hướng sử dụng đất và loại hình sử dụng rất thích hợp là việc rất quan trọng. Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn trên và nhu cầu sử dụng đất, được sự phân công của khoa Tài nguyên và Môi trường, Học viện nông nghiệp Việt Nam và được sự đồng ý của Uỷ ban nhân dân xã Quảng Nham cùng với sự hướng dẫn của Cô giáo Th.S Nguyễn Thị Giang tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa ”. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp nhằm lựa chọn các loại hình sử dụng đất (LUT) phù hợp với điều kiện cụ thể của xã Quảng Nham.
- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn xã Quảng Nham. Yêu cầu của đề tài - Nghiên cứu các điều kiện của xã một cách đầy đủ, chính xác và khoa học. - Đánh giá đúng thực tế thực trạng sử dụng đất nông nghiệp về kinh tế, xã hội, cơ sở vật chất…. của xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa.
- Các giải pháp đề xuất phải khoa học và phù hợp với điều kiện của xã Quảng Nham, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số vấn đề lý luận sử dụng đất nông nghiệp 1.1 Đất nông nghiệp và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 1.1 Đất đai và đất nông nghiệp a. Đất đai Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa về đất. Theo định nghĩa đất của Docuchaev- nhà thổ nhưỡng học người Nga (1897) cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian”.
Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập đến sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh, do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên (Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn Thế Hùng, 1999) Theo C.Mac: “ Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến, quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau”. Các nhà kinh tế, quy hoạch và thổ nhưỡng Việt Nam cho rằng: Đất đai là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được và đất đai được hiểu theo nghĩa rộng như sau: Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm các cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và bên dưới bề mặt đó bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối…) các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (Đỗ Thị Lan và Đỗ Anh Tài, 2007) Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái bên trên và dưới bề mặt đó như: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ,sông suối….), các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái 3 định cư của con người, những kết quả nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại để lại (Nguyễn Khang ,2000) Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu,lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người. Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất.
Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm. Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm b. Đất nông nghiệp Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Theo Luật đất đai 2003 nêu rõ: “ Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác” (Theo Luật đất đai, 2013) C.Mác đã nhấn mạnh “Đất là mẹ, lao động là cha của mọi của cải vật chất xã hội”, “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể” (Phạm Quang Phan, Phạm Văn Sinh, 2013).
Việt Nam là một quốc gia có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu. Nhưng vẫn tồn tại những thách thức và điểm yếu nghiêm trọng cần sớm khắc phục và giải quyết: (1) Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp là cho diện tích đất nông nghiệp bị giảm nhanh. 4 (2) Khai thác tiềm năng đất nông nghiệp không hợp lý làm cho đất bạc màu, kém chất lượng dẫn đến năng suất nông sản kém cả về sản lượng lẫn chất lượng. Sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào điều kiện khí hậu.
Khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp kém do chủng loại sản phẩm chưa đa dạng. Quy mô manh mún và năng suất lao động thấp. Đầu tư vào nông nghiệp còn rất hạn chế. Từ những thách thức trên để có thể đảm bảo năng suất cây trồng, an ninh lương thực cần phải có phương pháp canh tác phù hợp, chọn lọc các loại hình sử dụng đất phù hợp từng địa phương, từng đặc điểm của vùng nhằm sử dụng đất nông nghiệp đảm bảo sinh thái môi trường bền vững.
(Nguồn:https://tiasang.vn/quan-ly-khoa-hoc/nong- nghiep-viet-nam-nhung-van-de-ton-tai-26635/).2 Loại hình sử dụng và hệ thống sử dụng LUT là loại hình đặc biệt của sử dụng đất được mô tả theo các thuộc tính nhất định. Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng đất với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế xã hội và kỹ thuật được xác định. Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, loại hình sử dụng đất được hiểu khái quát là hình thức sử dụng đất đai để sản xuất hoặc phát triển nhóm cây trồng, vật nuôi trong một chu kỳ hoặc chu kỳ nhiều năm. Ngoài ra, LUT còn có nghĩa là kiểu sử dụng đất.
Những loại hình sử dụng đất này có thể hiểu theo nghĩa rộng là các loại hình sử dụng đất chính hoặc có thể được mô tả chi tiết hơn với khái niệm là các loại hình sử dụng đất (LUT) (Ninh Đức Tiến Anh, 2022) 1.3 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả.