CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.Cơ sở lý luận của đề tài Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 1. Giai đoạn từ năm 1945 – 1985 Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và phát triển kinh tế của Việt Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách quản lý và sử dụng đất đai.
Cương lĩnh chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1930 đã đề ra nhiệm vụ chiến lược của Cách mạng Việt Nam: “Đánh đổ đế quốc xâm lược giành độc lập dân tộc và xóa bỏ chế độ phong kiến giành ruộng đất cho nông dân”. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công; nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời đánh dấu một kỷ nguyên mới độc lập cho dân tộc; tự do hạnh phúc cho nhân dân; đã đặt nền móng cho chính sách ruộng đất của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành sắc lệnh bãi bỏ thuế thân, thuế môn bài, giảm tô, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp, Việt gian phản động chia cho nông dân nghèo, chia lại công điền công thổ. Tháng8/1955,Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa II đã thông qua chủ trương xây dựng thí điểm hợp tác xã sản xuất nông nghiệp (HTXSXNN).
Năm 1955 có 6 HTXSXNN được thành lập ở các tỉnh Phú Thọ, Thái Nguyên, Thanh Hóa; Năm 1956 có 26 HTXSXNN được thành lập; đến tháng 10/1957 có 42 HTXSXNN được thành lập. Năm 1965 Hội nghị lần thứ 11,12 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa III đã đề ra nghị quyết chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức kinh tế, quốc phòng, tiếp tục xây dựng CNXH trong điều kiện cả nước có chiến tranh; chủ trương tiếp tục củng cố HTX nông nghiệp. Quy mô HTX ngày càng mở rộng với mô hình HTX liên thôn, HTX quy mô toàn xã; trong đó HTX là đơn vị quản lý, đội sản xuất là đơn vị nhận khoán với phương thức 3 khoán: Khoán sản lượng, khoán lao động, khoán chi phí, phân phối bình quân. Mô hình HTX đã thích ứng với điều kiện thời chiến, tuy nhiên phương thức điều hành theo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 lối hành chính đã phát sinh yếu tố độc đoán, chuyên quyền,mệnh lệnh,vi phạm nguyên tắc dân chủ đã kìm hãm sản xuất,nông dân vẫn không quan tâm đến hiệu quả sử dụng đất; sản xuất trì trệ, đời sống tiếp tục gặp nhiều khó khăn.
Tháng 9 năm 1966 tại Vĩnh Phúc đã xuất hiện hình thức “khoán hộ”, thực chất là giao quyền sử dụng đất cho hộ nông dân, tuy nhiên do trái với quy định chung đã bị phê phán và đình chỉ. Đại Hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IV tháng 12/1976 quyết định đường lối xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước. Chủ trương xây dựng cấp huyện, hoàn thiện xây dựng HTX quy mô toàn xã, tổ chức nông nghiệp sản xuất lớn được tiếp tục khẳng định: “ Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung, xóa bỏ kiểu tổ chức sản xuất và ăn chia theo đội. Thực hiện việc quản lý, sử dụng ruộng đất tập trung,thống nhất trên quy mô HTX.
Các HTX phân phối lại ruộng đất manh mún”; “Chuyển sản xuất tập thể từ kiểu làm ăn phân tán, tự cấp tự túc sang sản xuất theo quy hoạch và kế hoạch thống nhất của huyện”; “Về cải tiến quản lý, tổ chức lao động theo hướng tập trung, dưới sự điều hành thống nhất của ban quản trị HTX”. Trên cơ sở định mức lao động, xếp cấp bậc công việc, tiêu chuẩn tính công, HTX xây dựng kế hoạch 3 khoán”. Ngày 13/1/1981 Ban Bí thư TƯ Đảng đã ban hành Chỉ thị số 100 về “Cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong HTX nông nghiệp”. Chỉ thị nêu rõ: “HTX nông nghiệp phải quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả tư liệu sản xuất, trước hết là ruộng đất, sức kéo, phân bón, các công cụ và cơ sở vật chất kỹ thuật tập thể”; “Tổ chức tốt việc giao diện tích ruộng đất cho đội sản xuất, cho nhóm và người lao động sử dụng để thực hiện sản lượng khoán, tránh để đồng ruộng bị chia cắt manh mún, khi diện tích giao khoán cho người lao động được phân bố hợp lý, thì có thể ổn định vài ba năm để xã viên yên tâm canh tác trên diện tích đó”.
Chỉ thị 100 của Ban Bí thư đã đánh dấu một mốc son quan trọng có ý nghĩa về chính sách ruộng đất nông nghiệp thời kỳ này, đã tạo cho xã viên được quyền sử Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 dụng đất trong khuôn khổ rộng rãi hơn, thiết thực và gắn bó hơn với lợi ích của người lao động. Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau thời kỳ đổi mới (từ 1986 đến nay) Từ ngày 15 đến 18/12/1986 tại thủ đô Hà Nội đã diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam. Đại hội đã hoạch định đường lối đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để, mở ra thời kỳ mới của sự nghiệp cách mạng nước ta trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội VI đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc: “Nhất thiết phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất để xác định bước đi và hình thức thích hợp”.
Ngày 05/4/1988, Bộ Chính trị khóa VI, Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 10 về “ Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” (gọi tắt là Nghị Quyết 10). Đây là nghị quyết có sức đột phá mãnh liệt, cóc tác động lan tỏa tích cực đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam trong 30 năm qua. Nghị quyết 10 đã đề ra các quan điểm cơ bản về đổi mới công tác quản lý kinh tế nông nghiệp của nước ta, thể hiện rõ sự đổi mới tư duy lý luận về quản lý kinh tế nông nghiệp nông thôn và nông dân. Đó là quan điểm mới, tư duy lý luận mới về giải phóng sức sản xuất trong nông nghiệp, sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong cơ chế thị trường định hướng xã hộ chủ nghĩa; quan điểm về lợi ích giữa nhà nước, hợp tác xã và người lao động…Nghị quyết đã cơ bản khắc phục được những tồn tại, hạn chế của Chỉ thị 100, đồng thời làm tiền đề để Đảng và nhà nước ta ban hành nhiều chính sách, pháp luật đổi mới kinh tế nông nghiệp và đất đai, trong đó các Hợp tác xã, hộ nông dân được xác định là đơn vị kinh tế tự chủ có quyền tự chủ trong quản lý, sử dụng ruộng đất, lao động và phân phối sản phẩm.
Trong suốt thời kỳ đổi mới, một loạt các chính sách và văn bản luật trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến vấn đề sử dụng đất đai đã ra đời. Những chính sách quan trọng nhất là Luật Đất đai năm 1993, sau Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đó là Luật đất đai sửa đổi năm 2003; Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy định phân bố đất rừng và đất nông nghiệp. Bên cạnh đó cũng có một loạt các chính sách liên quan đến hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề về đất đai. Theo Luật đất đai năm 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: Quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền cho thuê, quyền thừa kế và quyền thế chấp.
Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong thời hạn 20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm. Việc giao đất sẽ được tiến hành tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất nếu như người sử dụng đất vẫn có nhu cầu sử dụng. Luật đất đai cũng quy định mức hạn điền đối với hộ nông dân, cụ thể như quy định hạn mức đất trồng cây hàng năm là 2 ha đối với các tỉnh miền Bắc và miền Trung; 3 ha đối với các tỉnh ở miền Nam. Cùng với việc giao đất nông nghiệp thì việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được các cơ quan chức năng xem xét và cấp cho các hộ nông dân.
Đến năm 1998, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho 71% hộ nông dân,cuối năm 2000 con số này là trên 90%. Đối với đất rừng ở khu vực Trung du và Miền núi nơi có rất nhiều phong tục tập quán thì việc giao đất phức tạp hơn, quá trình cấp giấy chứng nhận diễn ra chậm hơn và quá trình này vẫn đang được tiếp tục (Ban Kinh tế, 2004). Luật Đất đai năm 2003 phát triển thành 9 quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Điều 106). Trong đó người nông dân được giao thêm 2 quyền sử dụng đó là quyền cho thuê lại và quyền được góp vốn đầu tư kinh doanh bằng quyền sử dụng đất.
Luật Đất đai năm 2013 đã kế thừa, phát triển, hoàn thiện quy định về sở hữu đất đai: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này” (Điều 4).Luật Đất đai năm 2013 điều chỉnh còn 8 quyền (bỏ quyền bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất). Về chế độ sử dụng đất nông nghiệp, Luật Đất đai năm 2013 quy định mở rộng thời hạn giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sản suất nông nghiệp và hạn mức nhận chuyển QSDĐ của hộ gia đình, cá nhân đáp ứng yêu cầu tích tụ, tập trung đất đai phục vụ sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại. (Luật Đất đai năm 2013.
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu vực nông thôn.