CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới Trong sản xuất nông lâm nghiệp thì đất đai là nhân tố quyết định, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trên thế giới, mỗi quốc gia có nền sản xuất nông nghiệp phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng của nó đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận, hầu hết các nước đều coi nông nghiệp là cơ sở, nền tảng của sự phát triển.
Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn lên đất, nhất là đất nông nghiệp. Trong khi đó đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hướng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp. Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông nghiệp. Vì vậy, đất đai là đối tượng bị khai thác triệt để, trong khi đó các biện pháp bảo vệ và tăng độ phì cho đất không được chú trọng dẫn tới hậu quả môi trường sinh thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới, đất bị mất chất dinh dưỡng, hữu cơ do bị xói mòn, nhiễm mặn…gây ảnh hưởng lớn đến năng suất, chất lượng nông sản.Buringh, toàn bộ đất nông nghiệp của thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha (chiếm khoảng 22% tổng diện tích đất liền); Phần diện tích còn lại (khoảng 78%, tương đương 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp.
Trong tổng số 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, con người hiện đang sử dụng cho trồng trọt khoảng 1,5 tỉ ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất đang có khả năng trồng trọt). Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác [28]. Hiện nay, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới chỉ còn 0,23 ha, ở nhiều quốc gia châu Á Thái Bình Dương là dưới 0,15 ha. Theo tính toán của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) với trình độ sản xuất trung bình như hiện nay trên thế giới để có đủ lương thực, thực phẩm thì mỗi người cần có 0,4 ha đất canh tác [2].
Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước n 5 phát triển là 70%; ở các nước đang phát triển là 36% trong đó những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen, đất rừng nâu chỉ chiếm khoảng 12,6%; những loại đất quá xấu như vùng băng tuyết, hoang mạc, đất núi chiếm 40,5%; còn lại là các loại đất không phù hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng. Ở các nước khác nhau thì bình quân diện tích đất nông nghiệp cũng khác nhau như: ở Mỹ là 0,25ha/ người; Bungari 0,7 ha/người; ở Pháp 0,64ha/người; ở Nhật 0,065ha/ người [6]. Trên thế giới hiện có khoảng 2,0 tỉ ha đất đã và đang bị thoái hoá và hoang mạc hoá, trong đó có 1,26 tỉ ha tập chung ở châu Á, Thái Bình Dương. Vì vậy, đây là một trong những vấn đề về môi trường và tài nguyên thiên nhiên mà nhiều quốc gia đang phải đối mặt và giải quyết nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, đảm bảo an ninh lương thực.
Thoái hoá đất có nhiều dạng và do nhiều nguyên nhân gây ra, cụ thể: xói mòn nước chiếm 55%; xói mòn gió 28%; chặt phá rừng 29,5%; chăn thả quá mức 34,5%; quản lý kém 28%; hoạt động công nghiệp 1,2% [6]. Theo Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) cho biết, tình trạng thoái hoá đất gia tăng đã khiến năng suất cây trồng giảm và có thể đe doạ tới tình hình an ninh lương thực đối với khoảng 1/4 dân số thế giới sống phụ thuộc trực tiếp vào đất. Thoái hoá đất ngoài vấn đề đe doạ tới an ninh lương thực còn là mối nguy cơ phá hoại các nguồn tài nguyên và sinh thái làm mất đa dạng sinh học và các nguy cơ khác. Do con người khai thác và sử dụng đất không khoa học làm cho đất nông nghiệp giảm cả về số lượng và chất lượng, nhiều vùng đất trên thế giới đã trở thành sa mạc không thể canh tác được.
Mất ổn định chính trị, nghèo đói, chặt phá rừng bừa bãi, chăn thả quá mức và các hoạt động tưới tiêu nghèo nàn đều góp phần vào sự thoái hóa, hoang mạc hóa của đất. Thoái hoá môi trường đất có nguy cơ làm giảm sản lượng lương thực thế giới trong những năm tới, làm ảnh hưởng tới hàng tỷ người của các nước trên thế giới. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam Việt Nam là nước có diện tích tự nhiên nhỏ trên thế giới, đứng thứ 4 ở khu vực Đông Nam Á, nhưng dân số lại đứng ở vị trí thứ 2 nên bình quân diện tích trên đầu người chỉ xếp vào hàng thứ 9 trong khu vực. Theo số liệu của Tổng cục Thống n 6 kê tính đến 01/01/2012, Việt Nam có tổng diện tích đất tự nhiên là 33.095,1 nghìn ha, dân số là 88.772,9 nghìn người, mật độ dân số là 268 người/km2, bình quân diện tích đất tự nhiên là 3.
Trong đó đất nông nghiệp có 26.280,5 nghìn ha, bình quân diện tích đất nông nghiệp trên người là 2.960 m2/người; đất sản xuất nông nghiệp là 10.151,1 nghìn ha, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên người là 1. Những năm gần đây cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang dần từng bước xóa bỏ tính tự cung, tự cấp, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và phục vụ xuất khẩu. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm. Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động.
Đất nông nghiệp và đất canh tác bình quân đầu người ngày càng giảm, do dân số vẫn tiếp tục tăng nhanh, dẫn đến sự thiếu hụt tư liệu cơ bản để phát triển sản xuất nông nghiệp. Diện tích đất đai bị xói mòn, thoái hóa do việc phá rừng gây ra cũng đang ngày càng tăng lên. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường trong 10 năm (2000-2010), bình quân diện tích đất nông nghiệp giảm 50m2/người, đây là con số còn rất khiêm tốn. Đáng báo động hơn là tình trạng suy giảm chất lượng đất nông nghiệp do rửa trôi, xói mòn, khô hạn, sa mạc, mặn hoá, phèn hoá, chua hoá, thoái hoá lý hoá học đất, ô nhiễm… suy thoái chất lượng đất dẫn đến giảm khả năng sản xuất, giảm đa dạng sinh học và nhiều hậu quả khác.
Những tác động tiêu cực trên đây ảnh hưởng trực tiếp đến hơn 50% diện tích đã và đang sản xuất nông nghiệp, đồng thời cũng là thách thức to lớn đối với sự phát triển nông nghiệp bền vững ở nước ta [2]. Ở nước ta hiện nay, thoái hóa đất đang là một trong những xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng lớn, đặc biệt là vùng rừng núi, nơi tập trung 3/4 quỹ đất. Trên 50% diện tích đất ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất ở vùng miền núi có những vấn đề liên quan tới suy thoái đất, nguyên nhân suy thoái có nhiều, song chủ yếu do phương thức canh tác nương rẫy còn thô sơ, lạc hậu của đồng bào dân n 7 tộc thiểu số, tình trạng chặt phá đốt rừng bừa bãi vẫn còn diễn ra, khai thác tài nguyên khoáng sản chưa hợp lý, việc triển khai các công trình giao thông, hạ tầng, nhà ở, khu đô thị mới… Sự suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy giảm các quần thể động, thực vật và chiều hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đã đến mức báo động [10]. Kết quả nghiên cứu của Lê Thái Bạt (2009) [2] đã thống kê ở nước ta có 15,7 triệu ha đất bi xói mòn, rửa trôi mạnh, đất chua, 9 triệu ha đất có tầng mỏng và độ phì thấp, 3 triệu ha đất thường bị khô hạn và sa mạc hoá, 1,9 triệu ha đất bị phèn hoá, mặn hoá.
Ngoài ra còn các tình trạng ô nhiễm do phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, chất thải, nước thải đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, sản xuất dịch vụ, chất độc hoá học để lại sau chiến tranh. Đây thực sự là những vấn đề đáng lo ngại và thách thức lớn đối với nước ta hiện nay. Theo Nguyễn Đình Bồng (2002) [5] diện tích đất sản xuất nông nghiệp của nước ta so với một số nước trên thế giới có tỷ lệ rất thấp trong tổng diện tích đất tự nhiên. Do vậy, để phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực, thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác, sử dụng đất đai hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả.
Sử dụng đất nông nghiệp phải dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng tối đa lợi thế về điều kiện sinh thái nhưng không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường, sinh thái, đó là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng đất đai bền vững. Nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 1. Khái quát về hiệu quả Trong thực tế có rất nhiều quan điểm về hiệu quả. Trước kia khi nhận thức con người còn hạn chế, nên người ta thường quan niệm kết quả và hiệu quả chỉ là một.
Sau này khi nhận thức của con người phát triển cao hơn người ta đã thấy rõ sự khác nhau giữa kết quả và hiệu quả. Theo trung tâm từ điển ngôn ngữ, hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của việc làm mang lại. Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới, nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất.
Trong kinh doanh hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao n 8 động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian [35].