Đặt vấn đề Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, thời kỳ đang đẩy mạnh phát triển nền kinh tế, đặc biệt là phát triển nhanh nền kinh tế khu vực nông thôn. Để làm được điều này đòi hỏi Nhà nước, địa phương phải có một chiến lược phát triển đúng đắn, kết hợp với việc khai thác sử dụng các dạng tài nguyên có hiệu quả trong đó bao gồm cả diện tích mặt nước. Việt Nam có đường bờ biển trên 3260 km, 12 đầm phá, hệ thống sông ngòi, ao hồ tự nhiên dày đặc. Nó được xem như những dải lụa uốn lượn trên đất nước Việt Nam và đóng vai trò quan trọng trong đời sống của hàng triệu người dân.
Dưới sức ép của việc phát triển đô thị, công nghiệp, dân sinh thì hơn 50% diện tích ao hồ sông ngòi đã bị giảm vì những nguyên nhân do con người gây ra. Hệ thống ao hồ đã bị khai thác quá mức hoặc chuyển sang sử dụng dưới hình thức khác: nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng nhiều tòa nhà cao tầng, các khu công nghiệp mọc lên xâm lấn diện tích nuôi trồng thủy sản. Mặc dù vậy hàng năm, ngành thủy sản đã cung cấp một lượng lớn nguồn thực phẩm an toàn, giàu dinh dưỡng cho con người, đảm bảo an ninh thực phẩm cho những hộ nuôi quy mô nhỏ và đóng góp tới 35% lượng tiêu thụ protein của người Việt Nam. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản hàng năm tăng trưởng 10% và góp phần đáng kể cho thu nhập từ nguồn xuất khẩu của cả nước (Bộ Thuỷ sản, 2007).
Với nghề nuôi cá nước ngọt, cá Chép là loài cá truyền thống có khả năng chống chịu bệnh tốt và thích nghi với các điều kiện khí hậu rất cao, có thể sinh trưởng và phát triển tốt trong các ao, hồ, đầm. đặc biệt là trong mô hình nuôi ghép lúa – cá, tại xã Hiệp Hòa là một xã thuần nông nghiệp, có diện tích ruộng chiêm trũng rộng, nguồn nước dồi dào đã có nhiều mô hình nuôi n 2 ghép lúa – cá mang lại hiệu quả kinh tế cao. Trên cùng đơn vị diện tích ruộng thu được nhiều sản phẩm, tận dụng được diện tích mặt nước, giảm bớt rất nhiều chi phí trung gian, tăng thu nhập cho các hộ chăn nuôi. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn cùng với lòng mong muốn góp phần trí tuệ nhỏ bé của mình nhằm phát triển ngành nuôi trồng thủy sản tại địa phương nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tình hình nuôi cá chép nội trong môi trường ruộng lúa tại xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Xác định được khả năng phát triển của cá chép nội trong mô hình nuôi kết hợp cá – lúa tại xã Hiệp Hòa, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. - Đánh giá được hiệu quả kinh tế của mô hình từ đó tư vấn cho các hộ chăn nuôi. - Yêu cầu của đề tài: Phải bố trí thí nghiệm, theo dõi nghiêm ngặt các chỉ tiêu trong một vụ lúa. - Xác định được khả năng sống, sinh trưởng và phát triển của cá chép nội.
- Đánh giá được hiệu quả của mô hình nuôi. Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa trong khoa học - Đề tài đóng góp thêm những tư liệu khoa học về khả năng sinh trưởng của cá chép nội trong ruộng nuôi kết hợp lúa – cá. - Góp phần nâng cao hiệu quả chăn nuôi cá chép nội.2 Ý nghĩa trong thực tiễn Góp phần nâng cao thu nhập cho trang trại, hộ dân nuôi cá chép nội trong ruộng nuôi kết hợp lúa – cá. - Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và nâng cao kiến thức về quy trình kỹ thuật nuôi cá chép nội, từ đó giúp sinh viên củng cố và nâng cao kiến thức chuyên môn cho bản thân.
n 3 - Giúp bản thân vận dụng vào thực tiễn các kiến thức đã học, rèn luyện tay nghề nâng cao kinh nghiệm cho bản thân. - Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp các hộ chăn nuôi cá chép nội áp dụng quy trình kỹ thuật này vào trong quá trình sản xuất để cho năng suất và chất lượng cao. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Những đặc điểm chung của cá chép nội 2. Vị trí phân loại Cá Chép tuy có nhiều dạng hình khác nhau song chỉ có một loài duy nhất chúng thuộc bộ cá chép. Bộ cá chép: Cypriniformes Họ cá chép: Cyprinidae Giống cá chép: Cyprinus Loài: Cyprinus carpio Linnaeus Giống cá chép Cyprinus có ba loài phụ đang phát triển mạnh trên thế giới và ở nước ta (Hội nghề cá Việt Nam, 2007) [9]. • Cá chép vẩy: Cyprinus carpio Linnaeus đây là loài cá nuôi phổ biến ở nước ta, thân bao phủ một lớp vẩy đều đặn, chịu đựng rét cao, ở vùng Bắc Liên Xô nhiệt độ có lúc xuống không độ nó vẫn sống được vài ngày.
• Cá chép kính: Cyprinus curpeospecularis. Cá chép kính có bộ vẩy không hoàn chỉnh, thường mỗi bên hông chỉ có ba hàng vẩy, vẩy mọc tập trung ở đường bên. Vẩy to, nhỏ không đều, hàng giữa thường có vẩy rất to xếp không có thứ tự, thân ngắn, lưng cao do đó có nhiều thịt. • Cá chép trần: Cyprinus carpionudus, có nơi còn gọi là cá chép da vì thân hoàn toàn không có vẩy bao bọc hoặc chỉ có rất ít và mọc lưa thưa.
Hình thái cấu tạo Hình thái cấu tạo ngoài của cá chép nội Một số đặc điểm hình thái chung của cá chép được thể hiện qua hình: n 5 Hình 2.1: Cá chép (Cyprinus carpio) Cá chép Việt Nam có tên khoa học là Cyprinus carpio L, có sự phân bố rộng và nhiều biến dị rất phong phú về hình thái lẫn màu sắc. Tùy theo khu vực địa lý phân bố mà các loại hình cá chép có một số đặc điểm hình thái khác biệt nhau.Tuy nhiên, chúng có vài đặc điểm chung như sau: Thân cá hình thoi, mình dây, dẹp bên. Viền lưng cong, thuôn hơn viền bụng. Đầu cá thuôn, cân đối.
Có hai đôi râu: Râu mõm ngắn hơn đường kính mắt, râu góc hàm bằng hoặc lớn hơn đường kính mắt. Mắt vừa phải ở hai bên, thiên về phía trên của đầu. Khoảng cách hai mắt rộng và lồi. Miệng ở mút mõm, hướng ra phía trước, hình cung khá rộng, rạch miệng chưa tới viền trước mắt.
Hàm dưới hơi dài hơn hàm trên. Môi dưới phát triển hơn môi trên. Màng mang rộng gắn liền với eo. Lược mang ngắn, thưa.
Răng hầu phía trong là răng cấm, mặt nghiền có vân rãnh rõ. Khởi điểm của vây lưng sau khởi điểm vây bụng, gần mõm hơn tới gốc vây đuôi, gốc vây lưng dài, viền sau hơi lõm, tia đơn cuối là gai cứng rắn chắc và phía sau có răng cưa. Vây ngực, vây bụng và vây hậu môn ngắn chưa tới các gốc vây sau nó. Vây hậu môn viền sau lõm, tia đơn cuối hoá xương rắn n 6 chắc và phía sau có răng cưa.
Hậu môn ở sát gốc vây hậu môn. Vây đuôi phân thuỳ sâu, hai thuỳ hơi tầy và tương đối bằng nhau. Vẩy tròn lớn. Đường bên hoàn toàn, chạy thẳng giữa thân và cuống đuôi.
Gốc vây bụng có vẩy nách nhỏ dài. Lưng xanh đen, hai bên thân phía dưới đường bên vàng xám, bụng trắng bạc. Gốc vây lưng và vây đuôi hơi đen. Vây đuôi và vây hậu môn đỏ da cam.
56 Công thức vẩy đường bên: 30 33 4 1 5 2 Công thức vây: D: III, 18-22; A: III, 5-6; P: 1, 13-16; V: 1, 6-9. Công thức răng hầu: II3 – 3II, đôi khi I23 – 32I. Hiện nay cá chép có thân cao nhất là dạng cá chép vẩy và cá chép trần Ukraina. Cá chép Châu Âu chia làm 4 nhóm vẩy: • Chép vẩy: Vẩy phủ toàn thân một lớp đều đặn.
• Chép đốm: Vảy lớn, phân bố rải rác không theo một quy luật nhất định (chép kính Hungari). • Chép kính: Có hàng vẩy to đều đặn, xếp dọc theo đường bên, ngoài ra còn có những hàng vẩy ở trên lưng và bụng. • Chép trần: Nói chung toàn thân không có vẩy, nếu có chỉ có một hàng vẩy nhỏ trên lưng. Ở nước ta không thấy có loại cá này.
Hình thái cấu tạo trong của cá chép - Mang (hệ hô hấp): Nằm dưới xương nắp mang trong phần đầu bao gồm các lá mang gần xương cung mang. - Tim (hệ tuần hoàn): Nằm phía trước khoang thân ứng với vây ngực. - Hệ tiêu hoá (thực quản, dạ dày, ruột, gan): Ruột dài nằm trong ổ bụng phân hoá rõ rệt thành thực quản, dạ dày, ruột, có gan tiết mật. - Bóng hơi: Trong khoang thân, sát cột sống.
- Tuyến sinh dục (hệ sinh sản): Hai dải, sát cột sống. Trong khoang thân, ở cá đực là 2 dải tinh hoàn, ở cá cái là hai buồng trứng phát triển trong mùa sinh sản. - Hệ thần kinh. Đặc điểm dinh dưỡng Cá ăn nhiều loại thức ăn nhưng thức ăn chủ yếu là sinh vật đáy như: Nhuyễn thể, giun, ấu trùng, côn trùng trong điều kiện thiếu thức ăn chúng sử dụng mùn bã hưu cơ cỏ non chìm trong nước và chúng cũng ăn nhiều loại thức ăn do con người cung cấp như bột ngũ cốc các loại, bột cá bột tôm, rau bèo, phân động vật, tấm cám…Cá chép thuộc loài cá nuôi phân bố tầng đáy, ăn động vật hoặc ăn tạp thiên về động vật, thay đổi tùy theo giai đoạn phát triển (Đỗ Thị Thanh Hương và cs, 2000) [5].
Cá có phổ thức ăn rất rộng, khi phân tích thành phần thức ăn trong ruột cá chép cho thấy mùn bã hữu cơ chiếm tới 70%, kế đến là nhuyễn thể và thấp nhất là động vật giáp xác (Ngô Thị Mai Hương và cs, 2008) [6]. Tính ăn cá chép có sự thay đổi theo từng giai đoạn phát triển và sự hoàn thiện dần của hệ thống men tiêu hóa trong cơ thể. - Cá mới nở dinh dưỡng bằng noãn hoàng. - Sau khi nở 3 – 4 ngày, cá dài từ 6 – 7,2 mm, bóng hơi đầy khí, cá phân bố ở lớp nước mặt là chính.
Cá bắt đầu ăn thức ăn bên ngoài, thức ăn thích hợp là các động vật phù du có kích cỡ nhỏ như luân trùng (Rotifera), giáp xác râu ngành (Cladocera), cá cũng có thể ăn được các loại thức ăn tự chế khác như bột đậu nành, bột huyết, lòng đỏ trứng nghiền nát. - Từ 4 – 6 ngày chiều dài L = 7 – 10 mm, ăn sinh vật phù du cỡ nhỏ sống ở lớp nước giữa là chính. n 8 - Từ 6 – 10 ngày chiều dài L = 10 – 13,5 mm, các vây hình thành rõ ràng, hàm trên bắt đầu xuất hiện răng sừng.