ĐẶT VẤN ĐỀ Đất nước ta đang trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ và giảm tỷ trọng nông nghiệp, nhưng cũng không thể phủ nhận vai trò to lớn của nông nghiệp khi một phần lớn dân số Việt Nam hiện nay vẫn đang sinh sống bằng nông nghiệp và các ngành nghề có liên quan đến nông nghiệp. Bởi nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là ở các nước đang phát triển như Việt Nam. Từ một nước có nền nông nghiệp lạc hậu thì tính đến nay, nền nông nghiệp nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng của nước ta đã có những bước chuyển biến lớn, từ một nước hằng năm phải nhập khẩu hàng triệu tấn lương thực thì đến năm 2015 sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người đạt 550 kg. Không chỉ bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia mà Việt Nam đã trở thành một trong những nước xuất khẩu lương thực lớn trên thế giới, với sản lượng trung bình từ 6 đến 7 triệu tấn gạo/năm, đứng vào top đầu các nước xuất khẩu gạo của thế giới và nhiều mặt hàng nông sản khác chiếm vị thế cao trên thị trường quốc tế.
Đối với sản xuất nông nghiệp đất đai là thành phần tất yếu, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được. Các Mác đã từng khẳng định: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Bởi vậy, nếu không có đất đai thì không có bất kỳ một ngành sản xuất nào, con người không thể tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để duy trì cuộc sống và duy trì nòi giống đến ngày nay. Tuy nhiên trong những năm gần đây xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lương thực thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa xã hội.
Chính vì thế cơ cấu đất đai có sự chuyển biến rõ rệt, diện tích đất công nghiệp xây dựng, đô thị ngày càng tăng, diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng thu hẹp đồng nghĩa áp lực đối với ngành nông nghiệp cũng tăng lên khi diện tích đất canh tác giảm nhưng vẫn phải đáp ứng các yêu cầu về mặt kinh tế, xã hội, môi trường để hướng đến nền nông nghiệp ổn định ở thời điểm hiện tại và 1 bền vững trong tương lai. Thạch Hà là một huyện duyên hải, nằm về 2 phía của thành phố Hà Tĩnh. Là một huyện nông nghiệp với tổng diện tích tự nhiên là 35.989 ha đất sản xuất nông nghiệp chiếm 42,35%. Trong những năm gần đây, Thạch Hà đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ, song kinh tế nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo, đóng góp một phần lớn vào GDP toàn huyện.
Được sự quan tâm của Đảng Bộ, HĐND, UBND, các phòng, ban, ngành, đoàn thể nên công tác quản lý và sử dụng đất sản xuất nông nghiệp được chú trọng hơn, xuất hiện nhiều mô hình sử dụng đất có hiệu quả tương đối cao. Các loại cây trồng được sử dụng trong các mô hình khá phù hợp với các điều kiện tự nhiên về địa hình, khí hậu, nguồn nước… của địa bàn huyện, cùng với đó là áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất sản lượng góp phần mang lại hiệu quả sử dụng đất cao hơn. Tuy nhiên , các mô hình này vẫn còn tồn tại một số hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng, thế mạnh đất đai của vùng. Vì vậy việc định hướng cho người dân trong việc khai thác và sử dụng hợp lý, có hiệu quả đất sản xuất nông nghiệp nói chung và các mô hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp nói riêng là một trong những vấn đề hết sức cần thiết.
Từ thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số mô hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh”. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU - Đánh giá hiệu quả một số mô hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện. - Đề xuất các mô hình phát triển trên các tiểu vùng của huyện Thạch Hà. - Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Phạm vi không gian: một số mô hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Thạch Hà. - Phạm vi thời gian: Số liệu sử dụng trong đề tài được thu thập từ năm 2010 - 2017. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Ý nghĩa khoa học - Đề tài góp phần bổ sung lý luận về đánh giá hiệu quả sử dụng đất vào một khu vực có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp.
Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá hiệu quả một số mô hình sản xuất nổi bật, từ đó là cơ sở để mở rộng và phát triển các mô hình được đánh giá có hiệu quả cao. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. ĐẤT ĐAI VÀ TÌNH HÌNH SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM 2. Đất đai và vai trò đất đai trong sự phát triển kinh tế - xã hội Đất đai tồn tại từ lâu nhưng khái niệm về đất mới có từ thế kỷ XVIII.
Trong từng lĩnh vực khác nhau, các nhà khoa học lại có những khái niệm về đất khác nhau. Năm 1883, nhà bác học người Nga Docutraiep (1946-1903) đã đưa ra định nghĩa: “Đất là một vật thể thiên nhiên được hình thành do tác động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian”. Sau này người ta bổ sung thêm yếu tố thứ 6 là con người, là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành đất trồng trọt (Vũ Năng Dũng, 1997). Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập tới sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh, do đó sau này một số học giả khác đã bổ sung yếu tố như nước ngầm và đặc biệt là con người để hoàn thiện khái niệm trên.
Theo nhận định của Các Mác thì “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp”, “Điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và sinh sống của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau” (Vũ Năng Dũng, 1997). Hiện nay khái niệm về đất đai trong phạm vi nghiên cứu về sử dụng đất được công nhận và phổ biến rộng rãi là khái niệm do Tổ chức Lương thực Thế giới (FAO) đưa ra: “Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất (FAO,1976). Theo quan niệm của các nhà thổ nhưỡng và quy hoạch Việt Nam cho rằng “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, động thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (Vũ Năng Dũng, 1997). Tuy có nhiều khái niệm khác nhau liên quan đến đất đai nói chung và đất sản xuất nông nghiệp nói riêng song không ai có thể phủ nhận mục đích chính của đất 4 đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên, do tự nhiên sinh ra và tồn tại một cách độc lập với ý muốn chủ quan của con người.
Tài nguyên đất là một thành phần thuộc thế giới tự nhiên có thể tái tạo được. Đất là vật thể thiên nhiên được hình thành do kết quả tác động qua lại, tổng hợp của 5 yếu tố: đá mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình, thời gian. Từ xa xưa, đất đã gắn chặt với cuộc sống của con người, của đất nước. Đất là nơi sinh sống, là nơi con người tạo ra của cải phục vụ cho bản thân và xã hội.
Luật Đất đai 2003 khẳng định: “Đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Đất là một nguồn lực quan trọng trong tất cả các ngành sản xuất. Trong công nghiệp, đất đai là nền móng, là nơi xây dựng cơ sở hạ tầng như: nhà xưởng, đường giao thông, trụ sở,… Nhưng đối với nông nghiệp đất đai không chỉ là vị trí mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động. Con người lợi dụng một cách có ý thức các tính chất tự nhiên của đất đai như lý học, hoá học, sinh học và các tính chất khác để tác động lên cây trồng.
Đất sản xuất nông nghiệp được sử dụng chủ yếu vào mục đích sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Nước ta cơ bản vẫn là nước nông nghiệp, hầu hết bộ phận dân cư vẫn sinh sống ở nông thôn, sinh kế ổn định chủ yếu vẫn dựa vào nông nghiệp vì vậy đất đai nói chung và đất sản xuất nông nghiệp nói riêng có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy cần phải tăng năng suất đất đai, giữ gìn và bảo vệ đất đai để đảm bảo lợi ích trước mắt cũng như lợi ích lâu dài, cần sử dụng tiết kiệm có hiệu quả, cần coi việc bảo vệ nguồn tài nguyên vô giá này là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của quốc gia. Tình hình sử dụng đất đai ở Việt Nam.
Đất đai được phân loại dựa theo mục đích sử dụng và đối tượng sử dụng quản lý. Phân theo mục đích sử dụng: Diện tích các nhóm đất theo mục đích sử dụng được trình bày trên hình 2.1 Tổng diện tích tự nhiên của cả nước là 33.035 ha đã được sử dụng vào các mục đích nông nghiệp và phi nông nghiệp, chiếm 93,59% tổng diện tích tự nhiên; còn 2.042 ha chưa được sử dụng, chiếm 6,41% tổng 5 diện tích tự nhiên.