Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình tái cơ cấu và công nghiệp hóa nông nghiệp tại Việt Nam, việc chuyển đổi từ sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, phân tán sang mô hình kinh tế trang trại có liên kết chuỗi giá trị đóng vai trò quan trọng nhằm nâng cao sức cạnh tranh và giảm thiểu tổn thất cho người sản xuất. Nhiều trang trại hình thành từ kinh tế hộ hiện nay vẫn gặp phải rào cản lớn về năng lực quản lý, hạch toán kinh doanh sơ sài và kỹ thuật chưa đồng bộ, dẫn đến chi phí sản xuất tăng cao và nguy cơ thua lỗ lớn. Việc nghiên cứu thực tế mô hình chăn nuôi quy mô trang trại là yêu cầu cấp thiết để nhận diện rõ các nhân tố chi phối hiệu quả kinh tế và rủi ro vận hành.
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Thào Mí Súng thực hiện tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Minh Tú, tập trung giải quyết các mục tiêu cụ thể được xác định trong văn bản:
- Đánh giá quá trình xây dựng và phát triển của trang trại chăn nuôi gia cầm;
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tổ chức sản xuất kinh tế trang trại chăn nuôi, đúc rút kinh nghiệm phát triển hình thức này ở Việt Nam nói chung và địa bàn phường Tích Lương nói riêng;
- Phân tích cụ thể các mặt thuận lợi, khó khăn trong quá trình tổ chức sản xuất kinh doanh tại trại;
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình chăn nuôi tại trang trại và doanh nghiệp.
Bên cạnh mục tiêu chuyên môn, văn bản xác định các mục tiêu rèn luyện về kỹ năng làm việc (sắp xếp công việc khoa học, làm việc nhóm, tuân thủ kỷ luật lao động) và thái độ làm việc tại cơ sở sản xuất.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là mô hình tổ chức và hiệu quả sản xuất kinh doanh chăn nuôi gà thịt giống Mía đen của Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh tại phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên, bao gồm toàn bộ các yếu tố đầu vào (lao động, cơ sở vật chất, nguyên vật liệu), quy trình kỹ thuật và kết quả đầu ra (sản lượng xuất chuồng, chi phí, doanh thu, rủi ro). Phạm vi không gian nghiên cứu đặt tại trại gà thịt của Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh tại phường Tích Lương, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi thời gian nghiên cứu và thực tập kéo dài 4 tháng, từ ngày 10/01/2020 đến ngày 10/05/2020, theo dõi trực tiếp một chu kỳ chăn nuôi gà thịt trọn vẹn (kéo dài từ 90 đến 105 ngày).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên khung văn bản pháp lý và các khái niệm khoa học kinh tế nông nghiệp:
- Khái niệm và tiêu chí kinh tế trang trại: Căn cứ Nghị quyết số 03/2000/NQ-CP của Chính phủ về phát triển kinh tế trang trại; các tiêu chuẩn xác định trang trại chăn nuôi gia cầm quy định cơ sở phải đạt giá trị sản lượng hàng hóa từ 1.000 triệu đồng/năm trở lên và quy mô đàn gà thịt có thường xuyên từ 5.000 con trở lên (không tính số con dưới 7 ngày tuổi);
- Hệ thống chính sách quản lý nhà nước: Chính sách đất đai (Nghị định 85/1999/NĐ-CP, Nghị định 163/1999/NĐ-CP và Luật Đất đai 1993); Chính sách thuế (Nghị định 218/2013/NĐ-CP, Nghị định 30/1998/NĐ-CP); Chính sách tín dụng hỗ trợ nông nghiệp nông thôn (Nghị định 55/2015/NĐ-CP, Quyết định 67/1999/QĐ-TTg, Nghị định 85/2002/NĐ-CP); Chính sách môi trường ứng dụng công nghệ hầm biogas và chế phẩm sinh học EM (Effective Microorganisms) trong xử lý chất thải chuồng trại;
- Cơ sở thực tiễn: Khảo cứu số liệu phát triển trang trại trên thế giới (Hoa Kỳ, Canada, Úc, Nhật Bản, Thái Lan) và tổng hợp số liệu thống kê năm 2015 của Cục Thống kê tại Việt Nam (toàn quốc có 45.306 trang trại; phân bố tập trung nhiều nhất tại Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 42,4%, Đông Nam Bộ chiếm 18,4%, Tây Nguyên chiếm 13,6%, vùng Đông Bắc chiếm 7,7%).
Về phương pháp thu thập dữ liệu:
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập các số liệu thống kê, văn bản quy phạm pháp luật, nghị định, quyết định của Chính phủ, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế nông nghiệp của các cơ quan quản lý tại địa phương và tài liệu chuyên ngành đã công bố;
- Nguồn dữ liệu sơ cấp: Thu thập trực tiếp tại trang trại Tích Lương qua phiếu điều tra trực tiếp chủ trang trại và cán bộ quản lý (ghi nhận thông tin nhân khẩu, diện tích, vốn đầu tư, chi phí sản xuất, sản lượng, doanh thu, biến động giá); phương pháp quan sát thực địa trực tiếp quá trình nuôi, lịch tiêm phòng dịch, kiểm soát nhiệt độ úm; phương pháp thảo luận nhóm với cán bộ kỹ thuật và sinh viên thực tập về những khó khăn trong quy trình nuôi dưỡng.
Về phương pháp xử lý và phân tích số liệu: Tác giả nhập liệu, tổng hợp và tính toán các chỉ tiêu bằng phần mềm Microsoft Excel. Phương pháp phân tích kinh tế sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phương pháp hạch toán kinh tế (tính chi phí cố định, chi phí biến đổi, khấu hao tài sản cố định, tổng doanh thu), phương pháp so sánh tuyệt đối - tương đối giữa thực tế và kế hoạch, và phương pháp phân tích nhân tố biến động doanh thu theo chỉ số số lượng gà xuất bán và khối lượng bình quân từng con.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu tập trung luận giải tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đòi hỏi tái cơ cấu ngành nông nghiệp, chỉ ra nghịch lý giữa sự phát triển nhanh về số lượng trang trại và tỷ lệ rủi ro phá sản cao do yếu kém trong năng lực hạch toán kinh doanh của kinh tế hộ. Tác giả xác định rõ hệ thống mục tiêu chuyên môn gắn liền với yêu cầu thực hành nghề nghiệp, trình bày quy trình phương pháp luận điều tra thực tế bằng phiếu câu hỏi, phỏng vấn chuyên sâu và quan sát hiện trường tại trại gà Tích Lương trong khoảng thời gian từ ngày 10/01/2020 đến ngày 10/05/2020.
Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
Chương tổng quan hệ thống hóa toàn diện các lý thuyết về trang trại nông nghiệp và trang trại chăn nuôi hàng hóa. Văn bản nhấn mạnh bản chất của trang trại chăn nuôi là đơn vị sản xuất trực tiếp tập trung, quy mô lớn, áp dụng kỹ thuật tiên tiến với tỷ suất nông sản hàng hóa đạt từ 70% đến 80% trở lên. Tác giả phân tích vai trò của trang trại trên ba khía cạnh kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái. Chương này phân tích chi tiết các chính sách nhà nước hiện hành tác động trực tiếp đến sự vận hành của trang trại (giao đất, miễn giảm tiền thuê đất, tiếp cận vốn vay ngân hàng thương mại, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, chính sách khuyến nông và bảo hộ tài sản). Về mặt thực tiễn, văn bản tổng thuật bức tranh trang trại toàn cầu và số liệu phân bố trang trại của Việt Nam theo vùng sinh thái nông nghiệp và cơ cấu ngành năm 2015.
Phần 3: Kết quả thực tập
Chương này trình bày chi tiết toàn bộ kết quả khảo sát, tính toán kinh tế và đánh giá kỹ thuật tại cơ sở thực tập:
- Điều kiện tự nhiên và tổ chức doanh nghiệp: Phường Tích Lương nằm cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 12 km về phía Nam, diện tích tự nhiên 9,3 km2, địa hình tương đối bằng phẳng, khí hậu nhiệt đới gió mùa với lượng mưa thấp nhất 1.060 mm, nhiệt độ trung bình 21°C, độ ẩm bình quân 82%, có nguồn cấp nước từ hồ Tích Lương và nhà máy nước sạch số 2. Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh thành lập năm 2005 tại thành phố Bắc Ninh bởi 4 thành viên góp vốn (ông Lê Văn Hải làm Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc, ông Lê Văn Hưng làm Phó Giám đốc, ông Lê Văn Bắc quản lý lò mổ, ông Lê Văn Quý làm Giám đốc lò mổ). Doanh nghiệp xây dựng chuỗi chăn nuôi khép kín gồm nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Bắc Ninh, hệ thống lò mổ chế biến thực phẩm tại Bắc Giang và các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm tại Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc và Thái Nguyên.
- Tổ chức sản xuất tại trại Tích Lương: Cơ sở mặt bằng được thuê lại từ trại chăn nuôi lợn của hộ dân (ông Dương Thành Cương), chuyển đổi sang nuôi gà thịt từ tháng 10/2019. Quy mô gồm 4 dãy chuồng (2 dãy chuồng gà xây mới và 2 dãy chuồng cải tạo từ chuồng lợn cũ gồm một dãy 14 ô và một dãy 9 ô), phương thức nuôi bán chăn thả với quy mô nhập đàn 12.000 con giống gà Mía đen do công ty tự ấp nở tại Bắc Giang. Đơn vị trang bị máy vi tính kết nối phần mềm kế toán MISA để cập nhật hàng ngày tỷ lệ gà chết, lượng cám tiêu thụ và thuốc thú y về văn phòng công ty.
- Đánh giá các yếu tố đầu vào:
- Về lao động: Cơ cấu nhân sự gồm 1 quản lý kiêm chuyên trách kỹ thuật (ông Nguyễn Văn Tài) và 4 công nhân sản xuất trực tiếp là sinh viên thực tập từ Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Đại học Nông Lâm Bắc Giang, Học viện Nông nghiệp Việt Nam và Trường Trung cấp nghề Hà Giang. Quản lý nhận lương 8.000.000 đồng/tháng và tiền ăn 1.000.000 đồng/tháng; sinh viên nhận trợ cấp 2.000.000 đồng/tháng/người và tiền ăn 1.000.000 đồng/tháng/người. Tổng chi phí lao động thực tế toàn trại là 21.000.000 đồng/tháng, giảm 10.000.000 đồng/tháng so với kế hoạch (kế hoạch dự toán 7 người với tổng kinh phí 31.000.000 đồng/tháng). Thời gian lao động chuẩn hóa 8 giờ/ngày (sáng 7h-11h, chiều 13h30-17h30), toàn trại tiêu hao 40 giờ công/ngày, tương đương tổng quỹ thời gian 4.200 giờ công cho trọn vẹn chu kỳ nuôi 105 ngày.
- Về tài sản cố định và chi phí khấu hao: Tổng nguyên giá tài sản sử dụng phục vụ nuôi đàn gà 12.000 con là 361.050.000 đồng, bao gồm tiền thuê trang trại (300.000.000 đồng), 160 khay ăn gà con (4.800.000 đồng), 180 máng tập ăn (8.100.000 đồng), 250 máng ăn lớn (13.750.000 đồng), 150 máng uống gà con (8.250.000 đồng), 30 máng uống dạng ống nhựa dài 7 mét (15.000.000 đồng), 230 bóng điện úm (10.350.000 đồng) và 20 bóng đèn chiếu sáng (800.000 đồng). Định mức khấu hao phân bổ cho một lứa nuôi (chu kỳ 3-3,5 tháng, bình quân 3 lứa/năm) được xác định là 52.406.666 đồng (trong đó chi phí thuê trại phân bổ 50.000.000 đồng/lứa, khấu hao công cụ dụng cụ là 2.406.666 đồng/lứa).
- Về nguyên vật liệu: Tổng chi phí nguyên vật liệu tiêu hao cho lứa nuôi đạt 942.525.000 đồng, gồm chi phí con giống 120.000.000 đồng (12.000 con x 10.000 đồng/con); chi phí cám hỗn hợp 711.600.000 đồng (2.965 bao cám x 240.000 đồng/bao); chi phí chất độn chuồng trấu 42.925.000 đồng (2.500 bao, khối lượng 10,1 kg/bao, giá 1.700 đồng/kg); thuốc thú y 35.000.000 đồng; tiền điện 15.000.000 đồng; chi phí nước bằng 0 đồng do khai thác trực tiếp từ 2 giếng khoan tại chỗ.
- Đánh giá đầu ra và doanh thu: Đàn gà nhập 12.000 con bị chết 2.910 con, tổng số gà sống xuất bán là 9.090 con (tỷ lệ sống đạt 75,75%). Cơ cấu xuất bán gồm:
- Gà đủ tiêu chuẩn: 7.590 con (chiếm 83,5% số sống), khối lượng bình quân 2,7 kg/con (trong đó gà trống chiếm 70% đạt 3,0 kg/con; gà mái chiếm 30% đạt 2,2 kg/con), đơn giá xuất bán 42.000 đồng/kg, sản lượng đạt 20.493 kg, doanh thu đạt 860.706.000 đồng;
- Gà chưa đủ tiêu chuẩn (loại thải/còi cọc): 1.500 con (chiếm 16,5% số sống), khối lượng bình quân 1,8 kg/con, tổng doanh thu đạt 68.040.000 đồng.
- Tổng doanh thu thực tế đạt 928.746.000 đồng, sụt giảm 378.966.000 đồng so với kế hoạch đề ra (kế hoạch dự kiến xuất chuồng 11.260 con với doanh thu 1.307.712.000 đồng). Tỷ lệ thực hiện doanh thu chỉ đạt 70,9%. Nguyên nhân chủ yếu do số lượng xuất chuồng sụt giảm mạnh làm hụt mất 266 triệu đồng doanh thu, dù khối lượng bình quân gà chuẩn thực tế (2,7 kg) có cao hơn mức kế hoạch (2,6 kg).
- Đánh giá rủi ro kỹ thuật: Tác giả chỉ ra các rủi ro vận hành then chốt gồm mầm bệnh tồn lưu từ các chuồng lợn cũ chưa được xử lý triệt để, biến động nhiệt độ trong giai đoạn úm gà con (đối chiếu theo bảng kiểm soát nhiệt độ giai đoạn nuôi của trại) và việc sử dụng lao động sinh viên có tay nghề thực hành chưa đồng đều.
Phần 4: Kết luận và kiến nghị
Tác giả tóm tắt kết quả vận hành của mô hình chăn nuôi, đánh giá ưu điểm về mặt chủ động cung ứng giống, thức ăn và đầu ra bao tiêu của doanh nghiệp, đồng thời chỉ rõ sự mất cân đối chi phí dẫn đến giảm sút doanh thu. Trên cơ sở đó, văn bản đưa ra các khuyến nghị cụ thể cho Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh về mặt quản lý chuỗi cung ứng, cải thiện chính sách nhân sự và yêu cầu trang trại Tích Lương phải hoàn thiện khử trùng chuồng trại, cải tạo hệ thống sưởi úm và phân định trách nhiệm kỹ thuật rõ ràng.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp các số liệu định lượng chi tiết phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh thực tế của một lứa nuôi gà thịt Mía đen quy mô 12.000 con tại trang trại, được tổng hợp đối chiếu với kế hoạch như sau:
| Chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật |
Kế hoạch đề ra |
Thực tế đạt được |
Chênh lệch (Thực tế - Kế hoạch) |
| Quy mô đàn nhập nuôi (con) |
12.000 |
12.000 |
0 |
| Số lượng gà xuất chuồng (con) |
11.260 |
9.090 |
-2.170 |
| Tỷ lệ xuất chuồng/tỷ lệ sống (%) |
94,00 |
75,75 |
-18,25 |
| Số lượng gà chết/hao hụt (con) |
740 |
2.910 |
+2.170 |
| Số lượng gà đủ tiêu chuẩn (con) |
10.000 |
7.590 |
-2.410 |
| Khối lượng bình quân gà chuẩn (kg/con) |
2,60 |
2,70 |
+0,10 |
| Số lượng gà loại/chưa đạt chuẩn (con) |
1.260 |
1.500 |
+240 |
| Khối lượng bình quân gà chưa chuẩn (kg/con) |
1,50 |
1,80 |
+0,30 |
| Chi phí nhân công hàng tháng (đồng) |
31.000.000 |
21.000.000 |
-10.000.000 |
| Chi phí khấu hao tài sản cố định (đồng/lứa) |
- |
52.406.666 |
- |
| Chi phí nguyên vật liệu (đồng/lứa) |
- |
942.525.000 |
- |
| Doanh thu gà đủ tiêu chuẩn (đồng) |
1.092.000.000 |
860.706.000 |
-231.294.000 |
| Doanh thu gà chưa đủ tiêu chuẩn (đồng) |
215.712.000 |
68.040.000 |
-147.672.000 |
| Tổng doanh thu của trang trại (đồng) |
1.307.712.000 |
928.746.000 |
-378.966.000 |
Các kết quả và phát hiện chính:
- Hiệu quả cắt giảm chi phí: Mô hình tuyển dụng sinh viên các trường chuyên nghiệp về thực tập sản xuất trực tiếp giúp giảm chi phí lao động từ 31.000.000 đồng xuống 21.000.000 đồng/tháng. Việc khai thác 2 bể giếng khoan tại chỗ giúp triệt tiêu hoàn toàn chi phí nước sinh hoạt và chăn nuôi.
- Bất cập về tỷ lệ hao hụt: Tỷ lệ gà chết quá lớn (2.910 con, chiếm 24,25% đàn giống) dẫn đến số lượng gà thương phẩm giảm mạnh, kéo doanh thu thực tế giảm sâu (-29,1% so với kế hoạch), khiến tổng doanh thu (928.746.000 đồng) thấp hơn tổng chi phí trực tiếp gồm nguyên vật liệu (942.525.000 đồng) và khấu hao tài sản (52.406.666 đồng), chưa tính chi phí nhân công toàn chu kỳ.
- Đề xuất và giải pháp của tác giả:
- Đối với trang trại: Phải tổng tẩy uế, tiêu độc triệt để mặt bằng chuồng nuôi, đặc biệt là 2 dãy chuồng cải tạo từ chuồng lợn cũ; điều chỉnh hệ thống sưởi ấm, che chắn chuồng nhằm duy trì nhiệt độ úm chuẩn xác theo từng tuần tuổi; phân công kỹ thuật viên theo dõi sát sao quy trình trộn thuốc phòng bệnh và cấp phát thức ăn của thực tập sinh.
- Đối với công ty: Nâng cao chất lượng kiểm dịch con giống trước khi vận chuyển từ trại Bắc Giang lên Thái Nguyên; bổ sung chế độ phụ cấp khuyến khích trách nhiệm cho lực lượng sinh viên thực tập; tăng cường kiểm tra giám sát qua số liệu cập nhật phần mềm MISA hàng ngày.
Đóng góp của nghiên cứu: Cung cấp bộ dữ liệu thực tế về hạch toán chi phí đầu vào, định mức tiêu hao thức ăn cám (2.965 bao cho 12.000 con), vật tư trấu, chi phí khấu hao trang thiết bị và đánh giá mức độ rủi ro dịch tễ khi cải tạo chuồng lợn sang chăn nuôi gà thịt bán chăn thả.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của khóa luận:
- Phạm vi dữ liệu thực nghiệm chỉ giới hạn trong một chu kỳ nuôi duy nhất (1 lứa kéo dài 105 ngày) tại một địa điểm trang trại cụ thể, chưa thu thập được chuỗi số liệu đối chứng qua nhiều lứa nuôi liên tiếp giữa các mùa vụ khác nhau trong năm (mùa nắng nóng và mùa rét buốt);
- Phương pháp hạch toán kinh tế mới dừng lại ở mức phản ánh chi phí kế toán phát sinh thực tế, chưa lượng hóa toàn diện các chi phí cơ hội, chi phí dự phòng rủi ro và các chỉ số tài chính dài hạn;
- Cơ chế sử dụng lao động phụ thuộc hoàn toàn vào sinh viên thực tập theo đợt khiến tính ổn định về kỹ thuật chăn nuôi chưa cao.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng theo dõi hạch toán kinh tế trên nhiều lứa gà liên tục trong năm để đánh giá chính xác tác động của yếu tố thời tiết và mùa vụ đến tỷ lệ sống và chi phí sưởi ấm;
- Nghiên cứu sâu về các biện pháp an toàn sinh học và xử lý vi sinh nền chuồng khi chuyển đổi mục đích sử dụng từ chăn nuôi lợn sang gia cầm;
- Xây dựng mô hình cân bằng tối ưu giữa tỷ lệ lao động cơ hữu có chuyên môn và lao động thực tập sinh nhằm kiểm soát chất lượng kỹ thuật chuồng trại.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên các ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản trị kinh doanh nông nghiệp, Phát triển nông thôn: Cung cấp phương pháp mẫu về xây dựng bảng biểu hạch toán tài sản cố định, tính toán khấu hao theo lứa nuôi, lập kế hoạch chi phí nguyên vật liệu và phương pháp dùng số tương đối, số tuyệt đối phân tích các nhân tố làm biến động doanh thu;
- Sinh viên ngành Chăn nuôi, Thú y: Tham khảo các định mức kỹ thuật thực tế về tiêu tốn thức ăn hỗn hợp, nhu cầu vật tư trấu độn chuồng, tiêu hao điện năng sưởi úm và tỷ lệ phân loại gà thương phẩm (gà trống, gà mái, gà đạt chuẩn, gà còi cọc) trong điều kiện chăn nuôi bán chăn thả;
- Chủ trang trại và doanh nghiệp nông nghiệp: Rút ra bài học thực tiễn về nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh và tổn thất kinh tế khi tận dụng hệ thống chuồng lợn cũ để nuôi gà mà không có giải pháp xử lý dịch tễ chuyên sâu.
Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật nhất trong tài liệu là bảng tính chi tiết thời gian và giá trị khấu hao từng loại tài sản cố định (máng ăn, máng uống, bóng sưởi, nhà xưởng) quy đổi theo từng chu kỳ lứa nuôi và hệ thống số liệu định lượng chi phí nguyên vật liệu tại trại Tích Lương.
Câu hỏi thường gặp
1. Đàn gà tại trại Tích Lương được nuôi theo giống gì và hình thức chăn nuôi nào?
Trại nuôi giống gà Mía đen với quy mô nhập đàn 12.000 con giống (do công ty tự ấp nở tại Bắc Giang và vận chuyển lên), áp dụng phương thức chăn nuôi bán chăn thả với thời gian nuôi từ 90 đến 105 ngày (3 đến 3,5 tháng).
2. Nguyên nhân chủ yếu nào làm sụt giảm doanh thu thực tế so với kế hoạch ban đầu của trang trại?
Tổng doanh thu thực tế sụt giảm 378.966.000 đồng (-29,1%) so với kế hoạch chủ yếu do tỷ lệ gà chết trong quá trình nuôi quá cao (chết 2.910 con, tương ứng tỷ lệ hao hụt 24,25%), làm số lượng gà xuất bán hụt mất 2.170 con, gây tổn thất 266 triệu đồng doanh thu sản lượng, dù khối lượng bình quân gà đạt chuẩn thực tế (2,7 kg) có cao hơn kế hoạch (2,6 kg).
3. Cơ cấu tổ chức lao động và mức chi trả nhân công tại trại Tích Lương được bố trí ra sao?
Trang trại bố trí 5 nhân sự gồm 1 quản lý kỹ thuật nhận lương 8.000.000 đồng/tháng và tiền ăn 1.000.000 đồng/tháng; 4 công nhân sản xuất trực tiếp là sinh viên thực tập từ các trường nông nghiệp nhận phụ cấp 2.000.000 đồng/người/tháng và tiền ăn 1.000.000 đồng/người/tháng. Tổng chi phí lao động thực tế là 21.000.000 đồng/tháng.
4. Trong các khoản chi phí nguyên vật liệu của lứa nuôi 12.000 con gà, khoản chi nào chiếm tỷ trọng lớn nhất?
Chi phí thức ăn chăn nuôi (cám hỗn hợp) chiếm tỷ trọng lớn nhất với tổng số tiền 711.600.000 đồng (tiêu thụ 2.965 bao cám với đơn giá 240.000 đồng/bao), chiếm 75,5% trong tổng chi phí nguyên vật liệu của lứa nuôi (942.525.000 đồng).
5. Cơ sở vật chất chuồng nuôi của trại Tích Lương có đặc điểm tổ chức như thế nào?
Trang trại gồm 4 dãy chuồng, trong đó có 2 dãy chuồng gà và 2 dãy chuồng tận dụng cải tạo từ hệ thống chuồng nuôi lợn trước đây của hộ dân cho thuê (gồm một dãy chuồng 14 ô và một dãy chuồng 9 ô).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Thào Mí Súng đã phản ánh chi tiết thực trạng tổ chức sản xuất và hạch toán kinh tế mô hình chăn nuôi 12.000 gà thịt Mía đen tại trại Tích Lương thuộc Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù cơ sở đã nỗ lực tiết giảm chi phí đầu vào thông qua việc tận dụng mặt bằng chuồng cũ, khai thác nguồn nước giếng khoan và huy động nhân lực thực tập sinh, kết quả kinh tế chung vẫn bị suy giảm nghiêm trọng do tỷ lệ chết lên tới 24,25%. Toàn bộ dữ liệu tính toán chi phí, doanh thu và các phân tích rủi ro dịch tễ trong tài liệu cung cấp luận cứ thực tiễn có giá trị cho công tác quản trị kinh doanh trang trại và kiểm soát kỹ thuật gia cầm bán chăn thả.