Mở đầu Phần 2: Tổng quan tài liệu. Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu. Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Phần 5: Kết luận và kiến nghị.
3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh tế 2.1 Khái niệm hiệu quả kinh tế. Theo giáo sư (Nguyễn Tiến Mạnh, 2001) [2] Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hay quá trình) kinh tế là phạm trù kinh tế phản ảnh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) để đạt được mục tiêu xác định. Hiệu quả kinh tế là sự tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra, nó thể hiện bằng các chỉ tiêu kinh tế như: Giá trị tổng sản lượng, lợi nhuận… tính trên lượng chi phí đã bỏ ra.2 Bản chất của hiệu quả kinh tế. Bản chất của hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh tương đối và tuyệt đối giữa lượng kết quả thu được với lượng chi phí bỏ ra.
Để đạt được cùng một khối lượng sản phẩm người ta có thể bằng nhiều cách khác nhau song do sự mâu thuẫn giữa nhu cầu tăng lên của con người với sự hữu hạn của nguồn tài nguyên, nên khi đánh giá kết quả của một quá trình sản xuất kinh doanh cần phải xem xét kết quả đó được tạo ra như thế nào và mất bao nhiêu chi phí.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - Tổng giá trị sản xuất (GO): Là chỉ tiêu bểu hiện bằng tiền của toàn bộ sản phẩm thu được trên một đơn vị diện tích canh tác trong một chu kỳ sản xuất nhất định. 4 - Giá trị gia tăng (VA): Là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung gian, là kết quả cuối cùng thu được sau khi trừ đi chi phí trung gian của hoạt động trồng nấm. - Chi phí trung gian (IC): Là toàn bộ chi phí vật chất được sử dụng trong quá trình tạo ra sản phẩm. Nó bao gồm toàn bộ chi phí vật chất và dịch vụ mua, thuê ngoài của hộ trong hoạt động sản xuất.
VA = GO – IC Trong đó: VA: Là giá trị gia tăng GO: Là tổng giá trị sản xuất IC: Là chi phí trung gian - Giá trị sản xuất tính cho một đơn vị chi phí trung gian (GO/IC): Là chỉ tiêu phản ánh về lượng số đơn vị giá trị sản xuất thu được khi bỏ ra một đơn vị chi phí trung gian đầu tư sản xuất. - Giá trị gia tăng tính chi một đơn vị chi phí trung gian (VA/IC): Là chỉ tiêu phản ánh về lượng, cho biết cứ một đơn vị chi phí trung gian bỏ ra để đầu tư cho nấm thì thu được bao nhiêu đơn vị giá trị gia tăng. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả kinh tế đạt được. - Giá trị gia tăng/lao động (VA/LĐ): Là chỉ tiêu phản ánh thu nhập tăng thêm cho một lao động.3 Phƣơng pháp xác định hiệu quả kinh tế Có nhiều phương pháp để xác định hiệu quả kinh tế song điều quan trọng là chúng ta cần xác định chính xác kết quả thu được và chi phí phải bỏ ra cho quá trình sản xuất kinh doanh.
Tuỳ theo mục đích tính toán hiệu quả kinh tế mà chúng ta xác định kết quả thu được sao cho phù hợp. Nếu mục tiêu của doanh nghiệp là sản xuất ra sản phẩm để đáp ứng nhu cầu xã hội là chủ yếu thì kết quả được sử dụng là tổng giá trị sản xuất (GO), nhưng với doanh nghiệp hay trang trại phải thuê mướn nhân công thì kết quả thu được cần quan 5 tâm lại là lợi nhuận, còn đối với các nông hộ kết quả được quan tâm là thu nhập hoặc thu nhập hỗn hợp. Chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh là chi phí cho các yếu tố đầu vào như đất đai, tư liệu sản xuất, lao động, tiền vốn, trình độ và công nghệ. Tuỳ theo mục đích phân tích và nghiên cứu mà chi phí bỏ ra có thể tính toán toàn bộ hoặc cho từng yếu tố chi phí.
Thông thường chi phí bỏ ra được tính là tổng chi phí, tổng chi phí trung gian. Hiệu quả kinh tế được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Điều đó có nghĩa là hiệu quả kinh tế là sự so sánh về mặt lượng giữa kết quả và chi phí sản xuất. Ta có công thức: H = Q/C Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế Q: Kết quả thu được C: Chi phí bỏ ra Phương pháp này phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các nguồn lực, xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu kết quả.
Điều này cho phép chúng ta so sánh hiệu quả ở các quy mô khác nhau. Khái niệm về đánh giá. Đánh giá dự án là một hoạt động của công tác quản lý nhằm tìm ra kết quả và nguyên nhân nào dẫn đến việc hoàn thành hay không hoàn thành dự án. Đánh giá dự án là một trong những hoạt động quan trọng của quá trình thực hiện các dự án phát triển.
Đây là quá trình khẳng định đúng đắn, hiệu quả và ảnh hưởng của dự án đối với các mục tiêu dự án có thể thực hiện ở nhiều giai đoạn khác nhau của chu trình dự án. Như vậy, đánh giá dự án là khâu cuối cùng của chu trình dự án. Đánh giá là xem xét một cách có hệ thống để xác định tính hiệu quả, mức độ thành công và tác động (về kinh tế, xã hội, môi trường.) của dự án so với mục tiêu đề ra. Phân loại đánh giá.
* Đánh giá tiền khả thi: Là đánh giá tính khả thi của hoạt động hay dự án, để xem xét hoạt động hay dự án có thể thực hiện được hay không trong điều kiện cụ thể nhất định. Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện. Tổ chức tài trợ sẽ phân tích các khả năng thực hiện của hoạt đông hay dự án để làm căn cứ cho phê duyệt xem dự án hay hoạt động có được đưa vào thực hiện hay không. * Đánh giá thực hiện: Loại đánh giá này thường bao gồm các dạng sau: * Đánh giá định kỳ: Là đánh giá trong giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định.
* Đánh giá cuối kỳ: Là đánh giá cuối cùng khi kết thúc dự án hay hoạt động. Đây là đánh giá toàn diện tất cả hoạt động và kết quả của nó. Mục đích của đánh giá cuối kỳ là nhằm nhìn nhận lại toàn bộ quá trình thực hiện dự án. * Đánh giá tiến độ thực thi: Là việc xem xét thời gian thực tế triển khai thực hiện các hoạt động có đúng thời gian quy định hay không.
* Đánh giá tình hình chỉ tiêu tài chính: Là xem xét lại việc xử dụng kinh phí chi tiêu tiền có đúng theo nguyên tắc đã được quy định không để có những điều chỉnh phù hợp và rút ra kinh nghiệm. * Đánh giá kỹ thuật dự án: Là việc xem xét lại những kỹ thuật mà dự án đã đưa vào có phải là mới không? Quá trình thực hiện các khâu kỹ thuật có đảm bảo theo đúng quy trình kỹ thuật đặt ra hay không? * Đánh giá mức độ ảnh hưởng môi trường: Đây là vấn đề mà hiện nay bất cứ một dự án nào khi tiến hành đều phải xem xét, đánh giá. * Đánh giá khả năng nhân rộng: Là việc xem xét kết quả dự án có thể áp dụng rộng rãi không, nếu có áp dụng thì cần điều kiện gì? 7 Tổng kết: Khi một dự án hay hoạt động kết thúc người ta thường tổ chức tổng kết để đánh giá các công việc đã được hoàn thiện hay chưa hoàn thiện, thành công hay thất bại để rút ra kinh nghiệm và đưa ra phương hướng giải quyết. Cở sở thực tiễn của đề tài.
Tình hình sản xuất nấm trên thế giới. Ngành sản xuất nấm đã hình thành và phát triển trên thế giới từ hàng trăm năm nay. Chính nhờ những giá trị về mặt dinh dưỡng và giá trị về mặt dược liệu mà ngành trồng nấm đang ngày càng phát triển trên thế giới. Nhiều giống nấm đã được đem trồng với kỹ thuật tiên tiến và nó cũng trở thành một loại dược phẩm ngày càng phổ biến trên thế giới.
Bên cạnh giá trị về mặt dinh dưỡng thì một số loại nấm rất có giá trị về mặt dược liệu như: Nấm Đông Cô (Lentinut Edodes), nấm Bào Ngư (Pleurotus), nấm Chân Chim (Schizophyllum), nấm Linh Chi (Ganoderma Lucidum), nấm Phục Linh(Poria Cocos). Hiện nay trên thế gới ghi nhận đã có hơn 2000 loài nấm ăn trong đó có hơn 80 loài nấm ăn được nghiên cứu và nuôi trồng và rất nhiều loài được trồng làm dược liệu. Việc nghiên cứu nấm ăn, nấm dược liệu cũng như công nghệ chế biến và bảo quản nấm trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ. Nó đã trở thành một ngành công nghiệp thực sự mang lại nhiều hiệu quả về mặt kinh tế và xã hội cho các nước trên thế giới.
Các nước trên thế giới hiện nay tập trung nghiên cứu và sản xuất Nấm mỡ, Nấm hương, Nấm sò, Nấm rơm là chủ yếu. Khu vực Bắc Mỹ và Châu Âu trồng nấm theo phương pháp công nghiệp. Những nhà máy sản xuất nấm có công suất từ 200 – 1000 tấn/năm được cơ giới hóa cao từ khâu xử lý nguyên liệu đến thu hái chế biến đều do máy móc thực hiện. Năng suất trung bình đạt từ 40 – 60% so với nguyên liệu ban đầu.
[1] 8 Khu vực Châu Á bao gồm Nhật Bản, vùng lãnh thổ Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc…Triển khai sản xuất nấm theo mô hình trang trại vừa và nhỏ, đặc biệt là ở Trung Quốc nghề trồng nấm đã thực sự đi vào từng hộ nông dân. Sản lượng nấm Mỡ, nấm Hương của Trung Quốc luôn đứng đầu thế giới. Hiện nay, việc trồng nấm được xem là nghề mang lại hiệu quả kinh tế cao, sản lượng nấm tăng theo cấp số nhân qua các năm. Từ năm 1990, mới đạt được vài tấn nấm/năm, đến năm 2003 đã đạt được trên 40.000 tấn nấm/năm… Mỗi năm, cả nước sản xuất được khoảng 150.000 tấn nấm nguyên liệu.
Các tỉnh phía Nam đã và đang sản xuất Nấm rơm muối đóng hộp với sản lượng hàng nghìn tấn/năm và xuất khẩu. Thị trường tiêu thụ nấm ăn lớn nhất hiện nay là Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan và các nước Châu Âu.