Mở đầu Trình bày lí do chọn đề tài, nêu rõ mục tiêu nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, phạm vi nghiên cứu, thời gian thực hiện, đối tượng và cấu trúc của bài nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan Chương này tổng hợp các tai liệu có liên quan cũng như có giá trị tham khảo cho bai nghiên cứu, tổng quan các thông tin về địa bàn nghiên cứu bao gồm: vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tổng quan chung về hoạt động nông nghiệp, hoạt động sản xuất lúa, hoạt động giảm vụ lúa tại địa bàn thực hiện nghiên cứu. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ làm rõ cơ sở lí thuyết về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa, những khái niệm và công thức sử dụng trong đề tài, các lí thuyết liên quan. Trình bày phương pháp thu thập và phương pháp phân tích dữ liệu được áp dụng cho đề tài.
Chương 4: Kết quả và thảo luận Thực hiện các thao tác thống kê mô tả nhằm thể hiện những đặc trưng của bộ dữ liệu. Tiến hành tính toán các chỉ tiêu kinh tế, tóm lược các kết quả từ nghiên cứu trước, so sánh hiệu quả kinh tế theo giả thuyết đề tài. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Trình bày một cách ngắn gọn những kết quả chính mà đề tài đạt được. Trên cơ sở đó sẽ đề ra các kiến nghị đối với hoạt động sản xuất lúa cũng như các cấp, ngành có liên quan dé giúp hoàn thiện các kết qua đạt được.
Đồng thời, nêu những mặt hạn chế mà đề tài chưa tiếp cận tới, định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo CHƯƠNG 2 TÔNG QUAN 2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Với mục đích giảm thiểu lượng hao phí tài nguyên, cũng như đảm bảo chất lượng đất nông nghiệp, hoạt động giảm vụ lúa đã được thực hiện và phổ biến trên địa ban thị xã Hoài Nhơn. Tuy nhiên, hiệu quả về giảm vụ lúa cũng như giá trị kinh tế thật sự từ mô hình canh tác vẫn chưa có nghiên cứu cũng như đánh giá kinh tế cụ thể. Do đó, thực hiện đề tài với mục đích đánh giá hiệu quả kinh tế trong việc giảm vụ lúa của nông hộ tại thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.
Nhằm hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu và viết bài báo cáo, tìm đọc các bài báo, tạp chí nghiên cứu khoa học, những bài viết có liên quan đề tông hợp và tham khảo như sau: 2. Tổng quan tài liệu nước ngoài V. Okoruwa và các cộng sự (2009) đã thực hiện nghiên cứu xem xét hiệu quả kinh tế tương đối của các trang trại lúa nhỏ và lớn ở miền trung, Nigeria. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dựa trên các hàm sản xuất đã có nhiều hạn chế trong phân tích.
Tuy nhiên, với phương pháp phân tích dựa trên lợi nhuận sẽ khắc phục được hạn chế đó. Dữ liệu phân tích giá đầu vào và đầu ra, các yêu tố sản xuất và đặc điểm kinh tế xã hội được thu thập từ 143 nông dân trồng lúa ở bang Niger, Nigeria. Phương pháp thống kê mô tả và hồi quy được áp dụng cho trường hợp của nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hệ số hạt giống, phân bón, vốn và giới tính của người trả lời có ý nghĩa đối với lợi nhuận.
Việc sử dụng các giống lúa hiện đại làm tăng đáng ké lợi nhuận. Bên cạnh đó, có sự khác biệt đáng kể về hiệu quả kinh tế giữa các trang trại nhỏ và lớn. Từ kết quả phân tích, nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật của các trang trại lúa, cần có một chương trình tăng 7 tốc dé cung cấp các giống lúa hiện đại, phân bón và dat sẵn có. Bai báo này cung cấp hỗ trợ dé loại bỏ sự phân phối không đồng đều của đầu vào sản xuất cho các trang trại lúa lớn.
Rezoyana Kabir Rasha cùng các cộng sự (2018) đã thực hiện phân tích lợi nhuận tài chính và hiệu quả sử dụng tài nguyên của sản xuất gạo boro ở một số khu vực chọn lọc của Mymensingh 6 Bangladesh. Bangladesh chủ yếu là một quốc gia nông nghiệp, Nông nghiệp cung cấp việc làm cho gần 47,33% tổng lực lượng lao động (BER, 2015). Quận Mymensingh đã được chon cho nghiên cứu dé tính toán lợi nhuận và đánh giá việc sử dụng tài nguyên hiệu quả sản xuất lúa Boro. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 60 nông dân mẫu thông qua lịch phỏng van và thực hiện phương pháp nghiên cứu mô ta và phân tích chức năng đã được thực hiện dé đạt được các mục tiêu của nghiên cứu.
Qua kết quả phân tích thấy rằng sản xuất lúa Boro là có lãi. Phân tích hiệu quả chỉ ra rằng hầu hết nông dân đã sử dụng đầu vào của họ một cách không hiệu quả. Nghiên cứu này cũng xác định một số van đề liên quan đến Boro sản xuất lúa gạo. Các van đề nông dân gặp phải được xếp hạng trên cơ sở tương ứng tỷ lệ phần trăm.
Từ đó, các tác giá đưa ra đề xuất và khuyến nghị chính sách phù hợp sẽ giúp các cơ quan phát triển và cải thiện sinh kế của người dân trong khu vực nghiên cứu. Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước Lê Cảnh Dũng, Võ Văn Tuấn và Phạm Thị Nguyên (2016) đã cùng thực hiện nghiên cứu về van đề tăng lợi nhuận thông qua giảm đầu tư trong sản xuất lúa ở Đồng bằng sông Cửu Long. Các tác giả thực hiện đề tài nhằm phân tích tăng lợi nhuận tài chính trong sản xuất lúa nhờ vào giảm dần sử dụng vật tư so với sản xuất theo tập quán của nông dân ở Đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời khái quát hóa những hạn chế mà nông dân gap phải và đề xuất các biện pháp thúc đây ứng dụng gói kĩ thuật 1 Phải 5 Giảm. Nghiên cứu được thực hiện thông qua phỏng vấn 555 hộ nông dân tại 6 tỉnh thâm canh lúa cao bao gồm: An Giang, Đồng Tháp, Long An, Kiên Giang, Tiền Giang và Sóc Trăng.
Dùng kiểm định T — Test phi tham số để so sánh sự khác biệt lượng đầu vào giữa các nhóm nông hộ thực hiện mô hình sản xuất giảm đầu tư và mô hình sản xuất theo tập quán. Kết 8 quả nghiên cứu cho thay mô hình sản xuất giảm đầu tư có hiệu quả kinh tế cao hơn so với nhóm hộ sản xuất theo tập quán. Tuy nhiên, hiện nay việc thâm canh lúa đang đối mặt với tình trạng sâu bệnh ngày càng nhiều trong bối cảnh biến đổi khí hậu; do đó, phần lớn nông dân đang sản xuất theo tập quán, sử dụng nhiều nông duoc. Hơn nữa, thiếu tiếp cận kỹ thuật mới là một trong các nguyên nhân cản trở nông dân giảm sử dụng vật tư trong sản xuất lúa.
Nguyễn Trung Kiên (2017) đã tiến hành thực hiện nghiên cứu nhằm so sánh hiệu quả kinh tế giữa sản xuất lúa và khoai lang ở Huyện Hòn Đắt, tỉnh Kiên Giang, qua đó đề xuất mô hình canh tác hiệu quả nhằm nâng cao thu nhập của nông hộ. Với mục đích đó, tác giả đã tiến hành khảo sát 120 hộ nông dân với số quan sát hợp lệ trong mẫu gồm 58 hộ trồng lúa và 59 hộ trồng khoai lang. Với mức ý nghĩa thống kê 5%, bằng phương pháp kiểm định T — Test và phân tích phương sai ANOVA, kết quả phân tích cho thấy trồng khoai lang cho hiệu quả kinh tế cao hơn trồng lúa. Cùng với đó, về chi phí sản xuất, lợi nhuận trung bình, hiệu quả lao động, hiệu quả chi phi của sản xuất khoai lang đều cao hơn sản xuất lúa.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra những vấn đề trong việc tiêu thụ, khó khăn trong trồng khoai lang chủ yếu ở giá nông nghiệp biến động (chiếm 44,07%), nhà kho bảo quản (chiếm 30,51%) theo thông tin số hộ khảo sát. Cuối cùng, nghiên cứu trình bày các khuyến nghị chính sách, hạn chế cũng như định hướng gợi ý các nghiên cứu mở rộng vả chuyên sâu hơn. Võ Văn Dứt và cộng sự (2018) đã thực hiện nghiên cứu so sánh hiệu quả kinh tế của hai mô hình lúa hai vụ và lúa ba vụ tại huyện Châu Phú tỉnh An Giang. Mục đích nghiên cứu nhằm so sánh hiệu quả kinh tế của hai mô hình lúa, đồng thời phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của hai mô hình này bằng phương pháp ước lượng hồi quy đa biến.
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ việc phỏng vấn hộ trực tiếp 34 hộ trồng lúa 3 vụ và 16 hộ trồng lúa 2 vụ. Kết quả nghiên cứu cho rằng, mô hình nghiên cứu mô hình canh tac lúa hai vụ cho hiệu quả kinh tế cao hơn mô hình ba vụ. Chi phí lao động. phân bón, bảo vệ thực vật, chuẩn bị đất, thu hoạch, giá bán lúa có ảnh hưởng mạnh mẽ đên hiệu quả kinh tê của mô hình.
Qua đó, tác giả cũng đưa ra những hạn chê của mô hình. Hồ Qué Hậu (2019) đã tiến hành phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu qua kinh tế của hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập qua khảo sát 620 hộ nông dân trên cả nước nhằm nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của hộ nông dân trong sản xuất nông nghiệp. Tác giả thực hiện phân tích độ tin cậy thông qua chỉ số Cronbach-Anpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) dé tìm ra các biến thành phan và xác định độ tin cậy, độ giá trị của mô hình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố ảnh hưởng bao gồm: (1) Trình độ kỹ thuật và kinh nghiệm; (2) Quy mô sản xuất; (3) Tình trạng kinh tế; (4) Hiểu biết về thị trường giá cả; (5) điều kiện tự nhiên; (6) Co cấu sản xuất; (7) Lao động; (8) Các chính sách nhà nước về xây dựng hạ tầng, tín dụng, khuyến nông. Qua đó, tác giả cũng đưa một số đề xuất nhăm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh tê của hộ nông dân trong sản xuât nông nghiệp. Nguyễn Phượng Lê, Nguyễn Hải Dương (2020) đã thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm ở vùng Tây Nguyên: nghiên cứu điển hình ở huyện Cư M’Gar, tinh Đắk Lắk. Mục tiêu của nghiên cứu này là khái quát các loại công nghệ tưới cà phê đang được sử dụng; đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất cà phê có sử dụng công nghệ tưới tiết kiệm và chỉ ra các yêu tô cản trở việc ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm cho cà phê trên địa bàn huyện Cư M’ gar.