Đặt vấn đề VAC là viết tắt ba chữ cái đầu của ba từ Vườn, Ao, và Chuồng. Trong khái niệm chung: ‘Vườn’ là yếu tố phản ánh các hoạt động trồng trọt trong vườn, ‘Ao’ là chỉ các hoạt động nuôi cá trong ao và ‘Chuồng’ chỉ các hoạt động chăn nuôi gia súc, gia cầm. Hội Làm vườn Việt Nam (VACVINA) đã tập hợp các yếu tố từ các hoạt động phát triển sinh kế truyền thống gắn liền với sự hình thành, phát triển và lập nghiệp của đại bộ phận nông dân Việt Nam và đã đúc kết để nâng lên thành Mô hình sản xuất tổng hợp VAC (VAC integrated system). Đây chính là Hệ thống nông trang viên, một hệ thống kinh tế nông nghiệp tổng hợp mà Hội Làm vườn Việt Nam đã khởi xướng và thúc đẩy phát triển từ năm 1986 khi Chính sách giao đất lâu dài cho nông dân bắt đầu có hiệu lực.
Thực ra, đây là hệ thống nông nghiệp được phát triển từ kinh nghiệm lâu đời của cư dân đồng bằng sông Hồng. Thừa kế tài sông nước và đánh cá của người Lạc Việt, từ hàng nghìn năm trước, người dân vùng đồng bằng sông Hồng đã thấy rõ lợi ích của việc nuôi cá "thứ nhất canh trì, thứ nhì canh viên, thứ ba canh điền". Nhất nuôi cá, nhì làm vườn, ba làm ruộng. Hay là, "cơm với cá như mạ với con".
Đồng bằng sông Hồng có nhiều ao, có nơi "đào đất" "vượt thổ" để có đất cư trú, đôn nền nhà. Vì vậy, cùng hình thành với nhà ở, một số hộ gia đình còn cả vườn và ao với cách bố trí "trước cau, sau mít, cá vít chân bèo", cùng với chuồng nuôi gia súc, gia cầm (Hội làm vườn Việt Nam 1994) [2]. Theo quan điểm ngày nay, đây là một hệ sinh thái nông nghiệp nhỏ với quan hệ chặt chẽ giữa các thành phần, cho nên giảm hao phí năng lượng, giảm năng lượng vô công trong chuyển hóa năng lượng tất yếu. Chất thải từ chuồng (phân bón) dùng bón ruộng, bón vườn.
Mùn, chất dinh dưỡng của đất vườn 2 trôi xuống ao tạo điều kiện cho sinh vật phù du phát triển, làm thức ăn cho cá. Các loại chất thải đổ xuống bùn ao, bùn ao xúc lên để bón vườn, bèo cái trên mặt ao là thức ăn của lợn. Trong những năm trước đây VAC chưa được chú ý nhiều, chủ yếu sản xuất theo hướng tự cung tự cấp, chưa mang tính chất hàng hóa, cho đến khi nghị quyết đại hội VI được ban hành thì VAC mới thực sự được chú ý phát triển và khuyến khích nhân rộng, đã tạo ra bước ngoặt lớn cho nền kinh tế nông nghiệp của nước ta. Đó không còn là cách làm ăn để tự túc, hay để có thêm chất dinh dưỡng, mà chủ yếu là để thoát nghèo, để làm giàu, và thực tế đã hình thành nhiều vùng có nông sản để bán.
Ngày nay, cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chọn phương án sản xuất cây, con mới đạt năng suất cao ngày càng phù hợp theo hướng sản xuất hàng hóa tiếp tục nhân rộng những hệ thống kinh tế VAC, kinh tế trang trại có hiệu quả đến nhân dân trong cả nước nhằm giúp họ tăng thu nhập, đóng góp tích cực vào công cuộc xóa đói giảm nghèo của đất nước. Ngoài ra, VAC là biểu hiện cụ thể của phát triển bền vững trong nông nghiệp. VAC không chỉ góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế của nông dân mà còn có ý nghĩa to lớn trong cải tạo, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ và cải tạo đất đai. Sản xuất nông nghiệp theo hệ thống VAC còn góp phần khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực về: con người, vốn, đất đai, kỹ thuật, tạo việc làm.
Đặc biệt sản xuất nông nghiệp theo hệ thống VAC còn mang giá trị nhân văn, đó là, nó có ý nghĩa sâu sắc trong giáo dục thẩm mỹ, bồi dưỡng nhân sinh quan, giáo dục tình yêu thiên nhiên, tình yêu quê hương. Mô hình kinh tế VAC là một hệ thống canh tác tổng hợp, kết hợp truyền thống và hiện đại, trong đó việc đảm bảo thu nhập kinh tế ổn định cho các hộ gia đình nông dân là một yếu tố chính được cấu thành. Tuy nhiên, 3 trong thời gian phát triển hợp tác xã nông nghiệp tập thể, hệ thống canh tác VAC gần như đã bị quên lãng. VAC được khôi phục và phát triển trong thời kỳ khi Chính sách ‘Đổi mới’ được ban hành, trong đó khuyến khích phát triển kinh tế hộ.
Từ năm 1986 thực hành VAC đã được VACVINA thúc đẩy mở rộng nhanh chóng ở các vùng khác nhau trên cả nước. Kết quả của VAC đã được đánh giá và ghi nhận về lợi ích các mặt: Kinh tế, xã hội và môi trường. VAC: Tăng cường dinh dưỡng và tăng cường lợi ích sức khỏe (Hội làm vườn 1994 Việt Nam) [2]: - VAC cải thiện tiêu chuẩn dinh dưỡng theo các chế độ ăn uống trong các gia đình bằng cung cấp các loại rau, hoa quả có giá trị dinh dưỡng cao (rau dền, rau đậu, cà rốt, chuối, đu đủ, trái cây có múi.), hay trứng, cá, thịt cho nhu cầu tiêu dùng trong các gia đình. Kết quả nhận được từ điều tra ở một số vùng thực hiện thí điểm VAC (Dự án an ninh lương thực hộ gia đình – HFS/UNICEF) cho thấy việc cải thiện tiêu chuẩn dinh dưỡng theo các chế độ ăn uống trong các gia đình như sau: Cá tăng 3,14 lần; Thịt (gà, lợn, bò,.) tăng 2,40 lần; Trứng (gà, vịt) tăng 2,90 lần; Trái cây tăng 3,14 lần và đặc biệt VAC có thể đóng góp hiệu quả để giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng.
VAC trong vườn xung quanh nhà có thể giải quyết vấn đề thiếu đói trong các thời kỳ “giáp hạt” giữa các vụ thu hoạch và đặc biệt là các loại rau, củ có thể nhanh chóng phục hồi sau các thảm họa thiên tai. Thực hành mô hình VAC tạo ra cơ hội làm việc trong một môi trường lành mạnh và tiếp cận với thực phẩm tươi sống và an toàn, góp phần cải thiện điều kiện sức khỏe của con người. Nhiều người già và người mắc bệnh mãn tính khi hành nghề làm vườn VAC có điều kiện cải thiện sức khỏe vì họ có thể có một 'nghỉ ngơi tích cực' 4 kết hợp với giải trí tốt hơn, thư giãn tinh thần và tình yêu sâu sắc hơn với thiên nhiên. VAC và phát triển kinh tế: ‘Kinh tế VAC’ là một thành phần chính của sản xuất nông nghiệp và là một bộ phận quan trọng của thu nhập hộ gia đình nông dân Việt Nam.
Các Nghiên cứu đã cho thấy: Ở nhiều xã của vùng đồng bằng sông Hồng, thu nhập từ các hoạt động VAC của nhiều gia đình nông dân đã đạt tới 70% tổng thu nhập và từ 3-5 lần cao hơn (và đôi khi mười lần cao hơn) so với sản xuất từ trồng lúa 2 vụ/năm trong cùng một diện tích (Đồng Phương Hồng 1998) [3]. Nhiều gia đình nông dân trở nên giàu có bằng thực hành VAC. Kinh tế VAC có một tiềm năng rất lớn, cần được kết hợp vào các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương. VAC phát triển sẽ góp phần chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp thâm canh, đa dạng và bền vững.
Nó sẽ cung cấp sản phẩm nhiều hơn cho tiêu thụ, xuất khẩu và cho sự phát triển của các ngành công nghiệp chế biến liên quan. VAC và các vấn đề xã hội: VAC ngày càng đóng một vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề xã hội liên quan tới đói nghèo. Thực hành VAC giúp tăng thu nhập và cải thiện các tiêu chuẩn của đời sống. Thực hành VAC sẽ tạo việc làm và công việc sản suất tốt hơn cho những gia đình đông người trước tình trạng nông nhàn hiện nay (tình trạng thất nghiệp hiện nay cao trong các khu vực nông thôn), qua đó giảm bớt áp lực di cư của người dân nông thôn vào các thành phố.
VAC cũng cung cấp các sản phẩm và tăng thêm thu nhập cho người cao tuổi khi về hưu với đồng lương hưu thấp. Những nông dân phụ nữ Việt Nam thường phải làm việc trên đồng ruộng và xa nhà. Thực hành VAC cho phép phụ nữ làm việc trong môi trường lành mạnh, gần nhà và có thêm nhiều thời gian chăm sóc con cái của họ. 5 VAC ‘tình nghĩa’ là mô hình đã được thiết lập cho các gia đinh thương binh, liệt sĩ sau chiến tranh.
Nhiều mô hình VAC cũng được thiết kế cho các lớp mẫu giáo và trường học, cho đồng bào người dân tộc thiểu số để cải thiện dinh dưỡng của trẻ em và học sinh. VAC trong các trường học có thể được sử dụng như là trung tâm trình diễn để giới thiệu các kỹ thuật VAC cho học sinh và người nông dân. VAC tại các bản làng có thể cho phép trẻ mồ côi, người tàn tật. có thể làm việc cùng nhau tạo ra nguồn thực phẩm đa dạng và thu nhập.
VAC cũng tao ra kết quả với một loạt các sản phẩm liên đới. Trái cây và rau quả có thể được chế biến ở quy mô công nghiệp; Các sản phẩm thủ công như dệt, kéo sợi. góp phần đáng kể vào thu nhập gia đình và chất lượng cuộc sống. VAC và tu bổ, cải tạo môi trường: Cũng như thực tế đã xảy ra ở các nước phát triển, Việt Nam đang trong tình trạng bị ô nhiễm từ khu vực nông nghiệp và công nghiệp.
Nguồn không khí, nước, đất bị ô nhiễm nặng nề đã gây nhiều tác động tiêu cực tới nguồn lương thực và thực phẩm, gây hậu quả nặng nề tới dời sống con người. Sự phát triển của hệ thống VAC có thể góp phần hạn chế ô nhiễm và cải thiện môi trường. Bên cạnh yêu tố quan trọng do VAC giúp sử dụng tối ưu nguồn tài nguyên đất, nước và năng lượng mặt trời, tất cả các chất thải qua chu trình sản xuất khép kín (khí sinh học, phân sinh học) được xử lý bằng các công nghệ sinh học sẽ giúp cho chất lượng môi trường nước, đất và không khí được cải thiện theo thời gian khi hệ thống VAC phát triển rộng rãi. Từ lợi ích do hệ thống VAC mang lại và cùng với sự ủng hộ khuyến khích phát triển của chính sách nhà nước, năm 1998 xã Tiên Phú, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ đã chuyển đổi diện tích đất trũng chỉ cấy được một vụ lúa sang sản xuất VAC.
Hiện nay, các hệ thống chuyển đổi đều đạt hiệu quả kinh tế cao hơn so với cấy lúa và VAC đã mang lại nguồn thu nhập đáng kể cho 6 người dân góp phần nâng cao đời sống của nhân dân trong xã.