Chương 1: Những vấn đề chung về hiệu quả kinh tế của dự án điện mặt trời áp mái. Chương 2: Thực trạng hiệu quả kinh tế của dự án điện mặt trời áp mái tại khu vực Đồng bằng Nam Bộ. Chương 3: Các giải pháp và kiến nghị nhằm khắc phục những hạn chế trong việc đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án điện mặt trời áp mái tại khu vực Đồng bằng Nam Bộ. NGÔ CHÍ QUỐC K21KTDTA - 2022 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 6 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA DỰ ÁN ĐIỆN MẶT TRỜI ÁP MÁI 1.
Tổng quan về đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án 1. Khái niệm về dự án đầu tư Theo định nghĩa dự án từ điển Oxford của Anh: “Dự án là một dự định, một nhiệm vụ được xác định và cũng là một kế hoạch được vạch ra để thực hiện”. Theo khái niệm dự án của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩn ISO 9000:2000 đã được Việt Nam chấp nhận trong tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000: “Dự án là một quá trình đơn nhất bao gồm một tập hợp các hoạt động được phối hợp và kiểm soát với ngày bắt đầu và ngày kết thúc được vận hành để đạt được các mục tiêu đã thiết lập, bao gồm các hạn chế về thời gian, chi phí và nguồn lực”. Mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dự án, nhưng chúng ta có thể đúc rút được được một vài đặc điểm chính của dự án như sau: được hành động dựa trên mục đích rõ rang và các nội dung kèm theo, có liên quan đến nhiều bên khác nhau và có sự hỗ trợ từ các bộ phận chức năng chuyên quản lý dự án, sản phẩm mang tính chất đơn chiếc và độc đáo, không có tính ổn định và có rủi ro cao.
Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau1: Theo Luật Đầu tư năm 2020: “Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định”. Xét về mặt hình thức: dự án đầu tư là bao gồm nhiều hồ sơ và tài liệu trình bày một cách cặn kẽ và có hệ thống các công việc và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được các kết quả và hoàn thành được các mục tiêu nhất định trong tương lai. Xét về khía cạnh quản lý: dự án đầu tư vốn là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, nguyên vật liệu và nhân lực để tạo ra các kết quả tài chính và kinh tế xã hội trong một khoảng thời gian lâu dài. 1 PGS TS Từ Quang Phương và PGS TS Phạm Văn Hùng.
Giáo trình Kinh tế đầu tư. NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội NGÔ CHÍ QUỐC K21KTDTA - 2022 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 7 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG Xét về góc độ kế hoạch hóa: dự án đầu tư được coi là một công cụ dùng để thể hiện kế hoạch một cách chi tiết của một quá trình đầu tư sản xuất kinh doanh và phát triển nền kinh tế xã hội, đồng thời làm tiền đề cho những quyết định đầu tư hoặc tài trợ. Xét về góc độ này, dự án đầu tư là hoạt động mang tính kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công cuộc kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung (Mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể tiến hành nhiều dự án). Xét về mặt nội dung: dự án đầu tư là bao gồm nhiều đầu việc và các loại chi phí cần thiết, được sắp xếp theo một kế hoạch chặt chẽ với nhau với lịch trình thời gian và địa điểm được xác định để tạo mới, mở rộng hoặc cải thiện những cơ sở vật chất trong dự án với mục đích là hoàn thành được những mục tiêu nhất định đã được đề ra trong tương lai.
Từ khái niệm trên cho thấy, một dự án đầu tư bao gồm 4 phần chính2: Mục tiêu của dự án: mục đích của dự án được biểu diễn ở hai mức độ: Mục tiêu phát triển của dự án thể hiện sự đóng góp của dự án vào việc tiến hành hoàn thành các mục tiêu chung của một quốc gia. Mục tiêu này đạt được thông qua những lợi ích mà dự án mang lại cho nền kinh tế và xã hội. Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư: đó là những mục đích cụ thể cần đạt được trong việc thực hiện dự án. Mục tiêu này được hoàn thành thông qua những lợi ích tài chính mà chủ đầu tư có được từ việc triển khai dự án.
Kết quả của dự án: đấy là những kết quả cụ thể và có thể định lượng được từ việc tạo ra các các hoạt động khác nhau của dự án. Đây cũng là điều kiện cần thiết để có thể thực hiện được các mục tiêu của dự án. Các hoạt động của dự án: là tập hợp các nhiệm vụ hoặc công việc được thực hiện trong dự án nhằm tạo ra các kết quả nhất định. Những nhiệm vụ hoặc công việc này cùng với một thời gian biểu và trách nhiệm cụ thể của các bộ phận chức năng sẽ tạo thành kế hoạch làm việc của dự án.
2 PGS TS Nguyễn Bạch Nguyệt. Giáo trình Lập và thẩm định dự án đầu tư. NXB Đại học Kinh tế Quốc Dân, Hà Nội. NGÔ CHÍ QUỐC K21KTDTA - 2022 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 8 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG Các nguồn lực của dự án: vật chất, tài chính và con người đều thực sự cần thiết để thực hiện những công việc của dự án.
Giá trị hoặc chi phí của các tiêu chí này chính là vốn đầu tư cần thiết cho dự án. Chu trình phát triển và phân tích dự án Chu trình của dự án đầu tư là tất cả những bước công việc mà một dự án phải trải qua kể từ khi mới chỉ là ý định đầu tư đến khi thực hiện được ý định và kết thúc ý định đó. Như vậy dự án đầu tư bao gồm 3 thời kỳ và bảy giai đoạn sau3: Thời kỳ chuẩn bị đầu tư Thời kỳ thực hiện đầu tư Thời kỳ kết thúc đầu tư - Nghiên cứu cơ hội đầu - Xây dựng cơ bản tư - Kiểm kê đánh giá dự án - Đưa dự án vào hoạt - Nghiên cứu tiền khả thi - Thanh lý dự án động - Nghiên cứu khả thi 1. Giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư Đây là giai đoạn đầu tiên trong việc hình thành ý tưởng về một dự án đầu tư, người ta còn gọi đây là giai đoạn nghiên cứu cơ hội đầu tư.
Mục đích của giai đoạn này là để trả lời câu hỏi có hay không cơ hội đầu tư. Đây là một việc làm quan trọng có ý nghĩa rất lớn đến sự thành công hay thất bại của dự án. Vì thế nghiên cứu cơ hội đầu tư không thể thực hiện một cách tùy tiện mà phải được dựa vào các căn cứ có khoa học. Các căn cứ đó là: Chiến lược phát triển kinh tế xã hội, văn hóa của cả nước,của từng vùng lãnh thổ, chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, của cơ sở.
Đây là một căn cứ rất quan trọng để đảm bảo định hướng cho đầu tư phát triển lâu dài. Mặt khác đây là căn cứ đảm bảo tính pháp lý của dự án. Mọi công cuộc đầu tư không xuất phát từ căn cứ này sẽ không có tương lai và sẽ không được chấp nhận. Nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước đối với sản phẩm, dịch vụ cụ thể.
Đây là nhân tổ quyết định sự hình thành và hoạt động của các dự án đầu tư. Không có nhu cầu thì khó đảm bảo khả năng đạt được lợi ích của dự án trong tương lai mà chỉ dẫn đến sự lãng phí tiền của và công sức của nhà đầu tư, của xã hội. Mặt khác 3 Glenn P. Sách hướng dẫn phân tích chi phí và lợi ích cho các quyết định đầu tư.
Viện phát triển quốc tế Harvard. NGÔ CHÍ QUỐC K21KTDTA - 2022 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP 9 HỌC VIỆN NGÂN HÀNG trong điều kiện nền kinh tế thị trường thì tiếng nói của người tiêu dùng là tiếng nói giữ vai trò quyết định đối với người sản xuất sản phẩm. Do vậy, cần có các thông tin liên quan tới nhu cầu dự kiến về hàng hóa và dịch vụ mà dự án tạo ra, từ đó đánh giá xem xã hội có nhu cầu về loại hàng hóa hoặc dịch vụ này hay không. Hiện trạng sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ đó trên thị trường trong và ngoài nước để xác định khoảng trống còn lại của thị trường mà dự án có thể chiếm lĩnh trong một thời gian dài sau này.
Tiềm năng sẵn có và có thể khai thác để thực hiện dự án. Những thế mạnh của doanh nghiệp về chuyên môn, khả năng quản lý, uy tín. Điều này rất quan trọng vì trong nền kinh tế thị trường doanh nghiệp nào có lợi thế cao hơn thì khả năng sẽ chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi Nghiên cứu tiền khả thi là nỗ lực đầu tiên nhằm đánh giá triển vọng chung của dự án.
Đểthực hiện giai đoạn này, việc sử dụng thông tin sơ cấp là không cần thiết vì rất tốn kém chi phí, do đó thông tin thứ cấp có thể được sử dụng bất cứ khi nào, đặc biệt là những thông tin sẵn có ở những dự án tương tự khác. Trong suốt quá trình thẩm định dự án, đặc biệt trong giai đoạn nghiên cứu tiền khả thi, việc sử dụng thông tin thiên về một hướng nào đó lại có giá trị hơn là việc tính toán trị số trung bình của các biến số mà chúng chỉ được biết với mức độ không chắc chắn lắm. Giai đoạn nghiên cứu khả thi Nghiên cứu khả thi là nhằm để xem xét liệu dự án có triển vọng đáp ứng đuợc các tiêu chuẩn về kinh tế, tài chính và xã hội mà chủ đầu tư và chính quyền đã đưa ra cho các khoản đầu tư hay không? Chúng ta cần phân tích độ nhạy cảm của dự án để xác định các biến số chủ yếu có vai trò quyết định đối với kết quả dự án. Chức năng của giai đoạn nghiên cứu khả thi trong việc thẩm định dự án là nhằm tăng cường mức độ chính xác của việc tính toán các biến số chủ yếu nếu như dự án có triển vọng thành công.
Để tăng cường mức độ chính xác cho giai đoạn nghiên cứu này, thì việc sử dụng thông tin sơ cấp là cần thiết khi tính toán các biến số chủ yếu của dự án.