CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Quan niệm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế (HQKT) trong Nông nghiệp: là tổng hợp các hao phí về lao động và lao động vật chất hóa để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp. Nó thể hiện bằng cách so sánh kết quả sản xuất đạt được với khối lượng chi phí lao động và chi phí vật chất bỏ ra. Lúc đó ta phải tình đến việc sử dụng đất đai và nguồn dự trữ vật chất, lao động, hay nguồn tiềm năng trong sản xuất nông nghiệp (vốn sản xuất, vốn lao động, vốn đất đai).
Nghĩa là tiết kiệm tối đa các chi phí mà thực chất là hao phí lao động để tạo ra một đơn vị sản phẩm[2]. HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh chất lượng của quá trình sản xuất. Nó được xác định bằng so sánh kết quả với chi phí bỏ ra. Hiệu quả xã hội: Là kết quả của các hoạt động kinh tế xét trên khía cạnh công ích, phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội như tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo, giảm tệ nạn xã hội.
Hiệu quả môi trường: Thể hiện bảo vệ tốt hơn môi trường như tăng độ che phủ mặt đất, giảm ô nhiễm đất, nước, không khí. HQKT là mối quan tâm duy nhất của kinh tế học nói chung và kinh tế học vi mô nói riêng. Hiệu quả nói một cách khái quát nghĩa là không lãng phí[2]. Trong các loại hiệu quả thì HQKT là quan trọng nhất, nhưng không thể bỏ qua hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Vì vậy khi nói tới HQKT người ta thường có ý bao hàm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường[2]. Như vậy: Hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó trong quá trình sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu sản xuất kinh doanh. Hiệu quả kinh tế Thực chất hiệu quả kinh tế là việc nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh tế của từng đơn vị cần xác định những vấn đề sau: Hiệu quả kinh tế sản xuất kinh doanh được đánh giá là có đạt hay không? Tăng hay giảm? Thấp hay cao? Cần phải so sánh mức thực tế đạt được với một mốc nào đó.
Tuỳ theo mục đích đánh giá và điều kiện tài liệu cho phép người ta có thể sử dụng một mốc hoặc kết hợp các mốc so sánh sau đây: - Mức hiệu quả theo thiết kế hoặc tiềm năng. Mức tiềm năng của từng thời kỳ có thể cao hoặc thấp hơn mức thiết kế ban đầu. - Mức kế hoạch hay định mức. - Mức kỳ trước, hay một kỳ nào đó đã thực hiện trước đây.
- Mức trung bình hay tiên tiến trong ngành. - Mức thực tế của đơn vị khác, doanh nghiệp khác, ngành khác, địa phương khác hay một quốc gia khác. * Nguyên tắc khi xây dựng hệ thống chỉ tiêu về HQKT - Phải đảm bảo tính thống nhất, thể hiện ở nội dung các chỉ tiêu và phương pháp xác định tính toán. - Phải đảm bảo tính toàn diện của hệ thống, bao gồm chỉ tiêu tổng quát chỉ tiêu bộ phận, chỉ tiêu phản ánh trực tiếp và chỉ tiêu bổ sung.
- Phải phù hợp với đặc điểm và trình độ của sản xuất cây sắn cao sản. Xét về mặt nội dung HQKT có mối liên hệ mật thiết giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra, nó so sánh giữa lượng kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Kết quả kinh tế phản ánh hoạt động cuối cùng trong quá trình sản xuất kinh doanh, còn HQKT là tỷ số chênh lệch giữa kết quả quá trình sản xuất và chi phí bỏ ra để có kết quả đó. 6 * Chỉ tiêu tổng quát phản ánh HQKT H=Q – KH = Q/K H = ∆ Q/ ∆ KH = K/Q H = ∆ Q - ∆ KH = ∆ K/ ∆ Q Trong đó: H: Hiệu quả kinh tế; Q: Kết quả sản xuất thu được; K: Chi phí nguồn lực; Q: Phần tăng lên của kết quả; ∆ K: Phần tăng lên của chi phí.
Chỉ tiêu này có thể tính theo hiện vật, hoặc tính theo giá trị (tiền). Vấn đề cần thống nhất cách xác định Q và K để tính toán HQKT. Q có thể biểu hiện là: Tổng giá trị sản xuất (GO); Tổng giá trị gia tăng (VA); Thu nhập hỗn hợp (MI); Lợi nhuận (Pr); Phần tăng lên của kết quả ( ∆ Q). K có thể biểu hiện là: Tổng chi phí sản xuất (TC); Chi phí cố định (FC); Chi phí biến đổi (VC); Chi phí trung gian (IC); Chi phí lao động (LĐ); Phần tăng lên của chi phí ( ∆ K).
Phương pháp xác định kết quả sản xuất (Q) và chi phí sản xuất (K) nêu trên là chung nhất, từng ngành, từng lĩnh vực sản xuất và ở những điều kiện cụ thể nhất định vận dụng cho thích hợp. Đánh giá HQKT trong sản xuất kinh doanh là việc làm hết sức phức tạp. Vì vậy để phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, toàn diện thì ngoài những chỉ tiêu trên, cần quan tâm đến một số chỉ tiêu khác như: - Năng suất đất đai: ND = GO(N)/D(CT) Trong đó: GO(N): Giá trị sản xuất ngành trồng trọt. D(CT): Diện tích đất canh tác sử dụng trong ngành trồng trọt Trong quá trình đánh giá, phân tích không chỉ đơn thuần phân tích, đánh giá HQKT mà phải chú ý đến hiệu quả xã hội,…Đồng thời phải chú ý 7 đến hiệu quả môi trường sinh thái như giảm gây ô nhiễm môi trường, phủ xanh đất trống, bảo vệ nguồn nước v.v…Trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững.
Cơ sở thực tiễn 1. Vị trí, vai trò của cây sắn cao sản trong sự phát triển kinh tế 1. Ý nghĩa của việc phát triển cây sắn cao sản Sắn là cây trồng có một ý nghĩa quan trọng trong đời sống và trong nền kinh tế. Những sản phẩm từ có giá trị sử dụng rộng rãi, có nhiều công dụng trong chế biến nhiên liệu sinh học, tinh bột, thức ăn gia súc, công nghiệp thực phẩm, màng phủ sinh học, bao bì, hồ vải và phụ gia dược, tất cả các bộ phận của cây sắn đều có thể sử dụng vào mục đích kinh tế.
Trồng cây sắn cao sản có tác dụng cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, đưa các hộ nông dân từ trung bình lên hộ có thu nhập khá và hộ giàu. HQKT và sự ổn định của vườn cây sắn cao sản gắn liền với cuộc sống định canh, định cư, hạn chế phá rừng làm nương rẫy Hội nhập kinh tế thế giới, sản phẩm làm từ sắn càng có giá trị thương phẩm cao, giải quyết công ăn việc làm góp phần tăng thu nhập cho người lao động. - Phát triển cây sắn cao sản sẽ góp phần thúc đẩy quá trình: Phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng tài nguyên rừng, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái, tạo không khí trong lành, phong cảnh tươi đẹp, hình thành các khu du lịch sinh thái nông nghiệp. - Phát triển cây sắn cao sản góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, tạo việc làm tại chỗ, chuyển nền kinh tế độc canh, tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hoá, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững.
Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật sản xuất cây sắn cao sản Sắn cao sản thường được trồng rải rác trên các địa bàn rộng, cây có chu kì kinh tế ngắn. Tuy nhiên chi phí cho việc trồng sắn thấp, ít công chăm sóc và chống chịu sâu bệnh tốt, cây phát triển được trên nhiều loại đất khác nhau 8 trong khi đó năng xuất có thể đạt từ 25 – 30 tấn/ha. Giá sắn thu mua có năm đạt tới 1.600 đồng/kg sắn tươi, còn sắn lát khô đạt 4. Trừ các chi phí mỗi ha sắn cao sản người dân thu từ 20 – 30 triệu đồng.
Đây cũng chính là ly do diện tích trồng sắn cao sản ở Bắc Kạn tăng một cách nhanh chóng. Chỉ riêng tại xã Bình Trung sau hơn 1 năm diện tích trồng sắn cao sản từ 40 ha đã tăng lên gấp đôi, trong đó chủ yếu sử dụng đất rẫy, đất rừng để trồng sắn. Tuy nhiên các yếu tố đất đai, nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm không khí, và các hiện tượng đặc biệt của thời tiết như giông bão, sương muối, mưa đá ảnh hưởng lớn đến năng suất, sản lượng và phẩm chất củ thu hoạch. Sự khác nhau về yếu tố khí hậu giữa các vùng sinh thái tạo nên các kiểu thời tiết đặc trưng và cũng hình thành nên các vùng trồng cây sắn cao sản đặc trưng rất thích hợp với quá trình sinh trưởng và phát triển một số giống cây trồng đặc thù đem lại HQKT cao (đầu tư chi phí ít mà năng suất, sản lượng, chất lượng củ thu được cao, bán được giá vì được thị trường ưa thích).
Cây sắn cao sản là loại cây trồng có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới. Có khả năng thích ứng với biên độ rộng của nhiệt độ từ 10 – 35 oc. Cây sắn cao sản cũng như các cây trồng nhiệt đới khác, trong quá trình sinh trưởng và phát triển cây yêu cầu ánh sáng mạnh, trồng trong điều kiện được chiếu sáng đầy đủ cây sẽ cho năng suất cao. Sắn cao sản chịu hạn tốt nhưng trong quá trình sinh trưởng và phát triển cây sắn cao sản cũng có yêu cầu một lượng nước nhất định, nhất là ở giai đoạn đầu (thời kì mọc mầm và cây non) cây thiếu nước sẽ sinh trưởng và phát triển kém.
Sắn cao sản có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau, tuy nhiên để sắn đạt được năng suất cao cần chọn loại đất có tiêu chuẩn là: Tầng canh tác dày, không bị ngập úng, giàu chất dinh dưỡng, dộ pH: 6 -7, có độ dốc < 15 o. Đất trồng sắn cao sản nhất thiết phải được chuẩn bị kĩ trước khi trồng, cây cần đất tơi xốp, sâu để rễ, củ phát triển, không lên luống theo chiều dọc của đất, nước sẽ rửa trôi lớp đất màu tùy thuộc vào địa hình để thiết 9 kế lô thửa cho phù hợp: - Độ dốc < 4o: Thiết kế theo băng luống dài - Độ dốc 10 - 15 o: Thiết kế theo đường đồng mức - Độ dốc 10 - 15 o: Thiết kế theo hình bậc thang. Lượng phân bón cho 1ha sắn cao sản từ 8 – 10 tấn phân chuồng, 150 – 170kg đạm urê, 200 - 250kg supe lân, 120 – 180kg kali.