CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VE CÁC NHÂN TO TÁC ĐỘNG DEN HIỆU QUÁ HOAT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một vấn đề đã được các nhà kinh tế học trên thế giới bắt đầu nghiên cứu từ thế kỷ XVIII, đặc biệt nó được tập trung nghiên cứu từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX. Các nhà khoa học, nhà quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh luôn quan tâm nghiên cứu các van dé cụ thé như: Hoạt động sản xuất kinh doanh như thế nào được coi là có hiệu quả? Làm thé nao dé đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp? Hiệu quả kinh doanh biéu hiện cụ thé như thé nào? Lam thế nao dé nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp?. Quan điểm hiệu quả kinh doanh bắt đầu phát triển từ giữa thế kỷ 18 bởi nhà kinh tế học người Anh — Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả chính là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hóa.” Quan điểm này đã có sự đồng nhất chỉ tiêu hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh, do đó việc đánh giá hiệu quả kinh doanh thực chất chỉ là đánh giá kết quả thu được từ hoạt động kinh doanh mà không quan tâm đến giá tri đầu tư để đạt được kết quả đó là bao nhiêu.
Quan điểm của hai nhà kinh tế học hiện đại nồi tiếng — Paul Samuelson và William D’Nordhau với quan điểm được trình bày trong cuốn “Kinh tế học” xuất bản vào những năm 80 của thế kỷ XX: “Hiệu quả kinh doanh là sử dụng một cách hữu hiệu nhất các nguồn lực của nền kinh tế để thỏa mãn nhu cầu mong muốn của con người.Rusanop đã trích dẫn quan điểm của một số nhà kinh tế Cộng hòa liên bang Nga về hiệu quả kinh doanh, theo đó: “Hiệu quả kinh doanh là một bộ phận quan trọng nhất của toàn bộ chiến lược kinh tế, và chỉ ra rằng dé giải quyết các nhiệm vụ kinh tế - xã hội hiện nay không có con đường nào khác là tăng nhanh hiệu quả của nền sản xuất xã hội.” Quan điểm này đã phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế không chỉ là sự so sánh giữa kết quả sản xuất với chi phí sản xuất, mà còn biểu hiện cả sự tương quan về lượng va chat giữa kết qua và chi phí. Hon thé nữa, hiệu quả kinh doanh được đánh giá qua sự tổng hợp nhiều chỉ tiêu kinh tế khác nhau trong quá trình sản xuất, đồng thời doanh nghiệp sản xuất kinh doanh càng hiệu quả thì hiệu quả xã hội sẽ càng tăng. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, dé tăng hiệu quả kinh doanh, doanh nghiệp lại làm ảnh hưởng mạnh đến hiệu quả xã hội. Theo ông Ngô Đình Giao, tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu mà doanh nghiệp hướng đến, do đó khi nghiên cứu hiệu quả kinh doanh chúng ta cũng đã nhận thấy vai trò rất quan trọng của tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh, có nghĩa là để đánh giá hiệu quả kinh doanh cũng cần phải quan tâm đến hiệu quả của hoạt động quản lý.
Hiệu qua của hoạt động quản ly được đánh giá qua tỷ lệ giữa kết quả có ích của hoạt động quản lý với khối lượng các nguồn đã sử dung hay đã hao phí dé đạt được kết qua đó. Có thé thấy, quan điểm nay đã đề cập đến một khía cạnh hiệu quả rộng lớn là hiệu quả quản lý. Việc đánh giá tổng quát hiệu quả hoạt động quản lý biéu hiện ở kết quả cuối cùng của các hoạt động của chủ thể quản lý (doanh nghiệp, Bộ, ngành, vùng). Tuy nhiên, hiệu quả của hoạt động quản lý lại là kết quả tổng hợp của hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả chính trị, do đó việc xác định rất phức tạp.
Qua các quan điểm về hiệu quả kinh doanh đã trình bày, có thể thay rang, mỗi nhà khoa học với những hướng tiếp cận khác nhau đã trình bày những quan điểm khác nhau khi đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Tuy nhiên, điểm chung nhất có thé nhận thấy đó là các quan điểm này đều cho rằng mục đích cuối cùng của hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa kết quả thu được sau quá trình sản xuất kinh doanh và chỉ phí đã bỏ ra để đạt được kết quả đó. Do vậy, từ những phân tích, đánh giá trên, tổng hợp các trường phái quan điểm về hiệu quả kinh doanh nhăm rút ra một khái niệm hiệu quả kinh doanh chung nhất: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ quản lý, sứ dụng các nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp dé hoạt động kinh doanh đạt kết quả cao nhất, biểu hiện thông qua hệ thống chỉ tiêu kinh tế đặc trưng thiết lập trên cơ sở so sánh tương quan giữa kết quả dau ra với chỉ phí hoặc các yếu to dau vào. Công ty chứng khoản và các nghiệp vụ kinh doanh 1.
Công ty chứng khoản Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về CTCK nhưng tựu chung lại: Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK. “Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện một hoặc toàn bộ các hoạt động: môi giới, tự doanh, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán nhằm mục đích kiếm lợi nhuận. Tuy theo điều kiện về năng lực tai chính, cơ sở vật chất kỹ thuật và nguồn nhân lực mà một CTCK có thê đảm nhận tất cả các nghiệp vụ kinh doanh hoặc chỉ đảm nhận một số nghiệp vụ nhất định theo giấy phép kinh doanh.” Tại Thông tư 210/2012/TT-BTC ngày 30 tháng 11 năm 2012 của Bộ Tài Chính về Hướng dẫn về thành lập và hoạt động CTCK có quy định: “Công ty chứng khoán là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh chứng khoán, thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư van đầu tư chứng khoán”. Bên cạnh đó, CTCK còn được thực hiện các dịch vụ lưu ký chứng khoán và dịch vụ tài chính khác phù hợp với quy định của pháp luật.
Các nghiệp vụ kinh doanh cua công ty chứng khoản a) Môi giới chứng khoán Theo nghĩa rộng, hoạt động môi giới trong lĩnh vực chứng khoán bao gồm một số hoạt động như tiếp thị, tư vấn đầu tư chứng khoán, ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ, mở tài khoản, nhận lệnh mua bán của khách hàng, thanh toán và quyết toán các giao dịch, cung cấp các giấy chứng nhận chứng khoán. Theo nghĩa hẹp, môi giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng khoán trong đó CTCK đứng ra làm đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch trên Sở giao dịch chứng khoán, hoặc thị trường OTC (thị trường phi tập trung) mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với kết quả giao dịch đó. Người môi giới chỉ thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng để hưởng phí dịch vụ, họ không phải chịu rủi ro từ hoạt động giao dịch đó. Nghiệp vụ môi giới chứng khoán còn được hiểu là làm đại diện - được uỷ quyền thay mặt khách hàng mua, bán một hoặc một số loại chứng khoán.
Hoạt động môi giới của CTCK phải tuân thủ các quy trình thực hiện đúng quy định dưới sự kiểm soát của Ủy ban chứng khoán, Trung tâm lưu ký chứng khoán. Đảm bảo các chức năng: - Cung cấp dịch vụ với hai tư cách: + Nối liền khách hàng với bộ phận nghiên cứu dau tư: cung cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư. + Nối liền những người mua và người bán: đem đến cho khách hàng tat ca các sản phâm và dịch vụ tài chính. - Đáp ứng những nhu cầu tâm lý của khách hàng khi cần thiết: chia sẻ những lo âu, căng thăng đồng thời đưa ra những lời động viên kịp thời giúp khách hàng ra quyết định một cách tỉnh táo.
- Đề xuất thời điểm mua, bán có lợi cho khách hàng. - Chức năng sản xuất: khi người môi giới tiến hành một thương vụ thì quy trình giao dịch được thực hiện. Một giao dịch được xử ly như thế nào là rất quan trọng vì nó chứng minh cho khách hàng thấy tính chuyên nghiệp của CTCK. b) Tự doanh chứng khoán Tự doanh là hoạt động tự mua bán chứng khoán cho mình dé hưởng lợi nhuận từ chênh lệch giá chứng khoán.
Nói cách khác, tự doanh là hoạt động mua đi bán lại chứng khoán nhằm thu chênh lệch giá (mua thấp, bán cao). Hoạt động tự doanh của CTCK được thực hiện ở Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dich chứng khoán và thị trường OTC. Tai Trung tâm giao dịch chứng khoán hoạt động mua bán này được tiễn hành như hoạt động của nhà đầu tư thông thường. Trên thị trường OTC, hoạt động tự doanh có thể được thực hiện trực tiếp giữa CTCK với các đối tác, hoặc thông qua hệ thống giao dịch tự động, hoặc thông qua hệ thống giao dịch tự động, hoặc thông qua hoạt động tạo thị trường.
Hoạt động tự doanh có tác dụng góp phần làm tăng thêm tính sôi động và tính thanh khoản của TTCK. Tuy nhiên có hạn chế khi các CTCK thực hiện các hoạt động bị cam như thao túng thị trường, thông đồng với nhau trong hoạt động mua bán làm thay đổi cung cầu một cách giả tạo để nâng giá hoặc giảm giá chứng khoán sẽ gây ton hại đến nhà đầu tư đặc biệt là các nhà đầu tư nhỏ. CTCK triển khai hoạt động tự doanh nhằm thực hiện các mục đích: - Tự doanh dé thu chênh lệch giá cho chính mình: CTCK là những tổ chức kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp. Với vai trò và vi trí của mình họ có nhiều lợi thế về thông tin và khả năng phân tích, định giá chứng khoán,.
Vì vậy, khi triển khai hoạt động tự doanh khả năng sinh lời từ hoạt động này của họ sẽ cao hơn so với các nhà đầu tư khác. Tuy nhiên dé đảm bảo tính 6n định và tính minh bạch của thị trường pháp luật các nước đều quy định các CTCK phải đáp ứng một số điều kiện nhất định như điều kiện về vốn, về nguồn nhân lực, về cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động tự doanh, .