Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm và vấn đề liên quan 1. Khái niệm về rừng và tài nguyên rừng Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nam, vi sinh vật, đất rừng va các yếu tổ môi trường khác, trong đó thành phan chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre nứa, cây họ cau, có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên (Luật Lâm nghiệp 2017). Hoặc có thể hiểu theo cách đơn giản, thì rừng là một hệ sinh thái, là nơi sinh sống của các loài sinh vật, động thực vật, nam và vi sinh vật.
Những yếu tố nay của rừng có môi quan hệ mật thiết với nhau. Rừng phòng hộ là rừng được sử dụng chủ yếu dé bảo vệ nguồn nước, bảo vệ đất, chống xói mòn, sạt lở, lũ quét, lũ ống, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường, quốc phòng, an ninh, kết hợp du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; cung ứng dịch vụ môi trường rừng (Luật Lâm nghiệp 2017). Tài nguyên rừng bao gồm: đất rừng, bãi chăn thả gia súc, cây cối, động vật rừng, các nguồn lâm sản khác và được liệu, nguồn gen, nguồn nước (Hoàng Mạnh Quân, Hoang Thị Sen va Truong Quang Hoang, 2005). Lâm sản là sản phẩm khai thác từ rừng bao gồm thực vật rừng, động vật rừng, và các sinh vật rừng khác gồm cả gỗ, lâm sản ngoài gỗ, sản phẩm gỗ, song, mây, tre, nứa đã chế biến (Luật Lâm nghiệp 2017).
Theo FAO (2005), LSNG là tat cả sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kê gỗ, cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng. Dịch vụ trong định nghĩa này là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến các sản vật này. Khái niệm về sinh kế và sinh kế bền vững, hộ gia đình và thu nhập 1. Sinh kế và sinh kế bền vững, khung sinh kế bền vững Sinh kế về cơ bản là phương tiện mà hộ gia đình sử dụng dé đạt được một đời sống tốt và duy trì nó.
Tính bền vững của sinh kế thể hiện ở một số khía cạnh: môi trường, kinh tế, xã hội và thể chế (DFID, 1999; dẫn theo Nguyễn Ngọc Dao, 2011). Hay một sinh kế được xem là bền vững khi nó phát huy được tiềm năng con người từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải có khả năng đương dau và vượt qua áp lực cũng như những thay đôi bất ngờ. Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bắt lợi cho môi trường hoặc cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai, trên thực tế thì nó thúc đây sự hòa hợp giữa chúng và mang lại những điều tốt đẹp cho thế hệ tương lai (Hoàng Lộc, 2013).
Một sinh kế được cho là bền vững khi con người có thể đối phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc. Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại và trong tương lai mà không gây tôn hại đến cơ sở vật chất các nguồn tài nguyên thiên nhiên (Nguyễn Quốc Hoàn, 2018). Phát triển sinh kế bền vững cho người dân sống phụ thuộc vào rừng là một quá trình bao gồm từ việc xác định chiến lược sinh kế, phát triển hoạt động sinh kế đến việc đánh giá kết quả sinh kế bền vững theo cả ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường cho những hộ gia đình sống gần rừng có nguồn sóng, thu nhập là dựa vào rừng và bị ảnh hưởng lớn từ rừng. Dưới sự ảnh hưởng của nguồn vốn sinh kế và bối cảnh dé bị tôn thương, cả ba yếu tô trên cần được phản ánh tông hợp trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa sự lâu bền và tính 6n định.
Phân tích sinh kế bền vững đơn giản là tìm hiểu về sinh kế của người dân và từ đó tìm cách dé nó trở nên bền vững. Dé thực hiện phân tích sinh kế bền vững phải dùng công cụ “Khung sinh kế bền vững” (Hoàng Lộc, 2013). Theo DFID (2001), khung sinh kế bền vững gồm những yếu tố chính anh hưởng đên sinh kê người dân. Các môi quan hệ bao gôm như sau: NGUON VON SINH KE KET QUA SINH KE Tang thu.
CHINHSACHCO | ———> nhiệuhơn BÓICẢNH | ——> <—> QUAN THỦ TỤC Đời sông di XUNG H a lên YẾU 6 ' Các cấp chính em Giảm rủi ro Chânđộng quyền SINH Caithién an Xuhướng Thanh KẾ toànlương Thời vụ phântư thực P F ian nhan Sử dụng tài Luật pháp nguyên - hưởng Vanhéa thiên nhiên các. Chính sách bền vững nguon. tiệp cận —_> hon KIHIEU H: Nguôn vốn conngườ F: Nguôn yon, tài chính N: Nguôn vôn,tự nhiên P: Nguôn von vậtchât S: Nguôn yon xã hội Hình 1. Khung sinh kế bền vững theo DFID Khung sinh kế bền vững theo Hình 1.1 đã nêu lên những yếu tô ảnh hưởng đến sinh kế của người dân.
DFID cho rằng, sinh kế không có nghĩa là các hoạt động mà con người thực hiện để kiếm sống. Nó còn có nghĩa là tất cả các yếu tố khác nhau góp phần ảnh hưởng đến khả năng con người đảm bảo đời sống cho họ và gia đình họ (dan theo Nguyễn Ngọc Đạo, 2011). Các yếu tố tạo thành khung sinh kế bền vững gồm: - Các nguồn lực và khả năng con người được xem các nguồn vốn hay tài sản sinh kế, các nguồn vốn này có thé chia ra 5 loại (Cam nang phương pháp đánh giá nông thôn và phân tích sinh kế bền vững, 2006): + Nguồn vốn con người (H): bao gồm kỹ năng, kiến thức, năng lực dé lao động và cùng với sức khỏe của người dân. + Nguồn vốn xã hội (S): tổ chức, hộ gia đình, tô chức nhóm và cộng đồng.
+ Nguồn vốn tự nhiên (N): đất đai, tài nguyên rừng, tài nguyên nước. + Nguồn vốn tài chính (F): vốn tài chính sử dụng cho đầu tư sản xuất. + Nguồn vốn vật chất (P): các công trình hạ tầng, cơ sở kinh doanh, các dịch vụ của gia đình và xã hội. Tài nguyên rừng nằm trong nhóm nguồn vốn tự nhiên (N), được xem như nguồn vốn sinh kế của mỗi hộ dân và cộng đồng.
Các hộ dân khai thác, sử dụng tài nguyên rừng phục vụ cho cuộc sống của họ. Tác động của người dân vào tài nguyên rừng có thể làm suy giảm hoặc bảo tồn, ổn định tài nguyên rừng. Các loại nguồn vốn của hộ gia đình theo (DFID, 2001) gồm: - Bối cảnh xung yếu hay khung hoàn cảnh dễ bị ton thương là môi trường bên ngoài mà trong môi trường đó sinh kế con người và các nguồn vốn sẵn có của họ bị ảnh hưởng cơ bản, vừa tích cực vừa tiêu cực, bởi những xu hướng, sự thay đôi đột ngột hoặc tính thời vụ, mà họ hạn chế được hoặc không kiểm soát được (Cam nang phương pháp đánh giá nông thôn và phân tích sinh kế bền vững, 2006). Nguôn vôn con người Nguồn vốn xã hội Nguồn vốn tự nhiên Nguôn vốn sinh kê Nguồn vốn vật chất Nguồn vốn tài chính Hình 1.
Các loại nguồn vốn tạo ra sinh kế cho hộ gia đình 1. Hộ gia đình và thu nhập hộ Hộ gia đình là một khái niệm dé chỉ hình thức tồn tại của một kiểu nhóm xã hội lấy gia đình làm nền tảng. Hộ gia đình trước hết là một tổ chức kinh tế có tính chất hành chính và địa lý. Trong đó, gia đình là một nhóm người mà các thành viên gan bó với nhau bang quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và nuôi dưỡng vừa đáp ứng nhu cầu riêng tư của mình, vừa thỏa mãn nhu cầu xã hội.
Do tác động của nền kinh tế thị trường, hộ gia đình nông thôn Việt Nam thường được phân loại thành: Hộ gia đình thuần nông, hộ gia đình nông nghiệp — phi nông nghiệp và hộ gia đình phi nông nghiệp (Luu Tan Hùng, 2017). Tại Việt Nam, kinh tế hộ chủ yếu là kinh tế của các hộ gia đình nông dân tại khu vực nông thôn. Xét theo cơ cấu ngành nghề, kinh tế hộ được phân chia thành các loại: hộ thuần nông (hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp); hộ kiêm nghề (vừa làm nông nghiệp, vừa hoạt động tiêu thủ công nghiệp): hộ chuyên nghề (hoạt động trong các lĩnh vực ngành nghề và dịch vụ); và hộ kinh doanh tông hợp (hoạt động cả trong lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ). Đến nay, kinh tế hộ gia đình đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
Kết quả nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ sinh kế và tài nguyên rừng 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa sinh kế của người dân sống trong và ven rừng, một số nghiên cứu điền hình như sau: Theo Arnold (1998), trong sự kiểm tra sự đóng góp của các khu rừng tạo sinh kế bền vững, chúng “bao gồm tất các nguồn lực có thé sản xuất các sản phẩm từ rừng, có thể gồm cả đất dưới tán rừng, đất dưới tán cây bụi, đất trống và các cây ở trong trang trại, cũng giống như các khu rừng”. Hơn nữa, sự đóng góp các khu rừng được xác định không chỉ là các sản phẩm nó cung cấp, mà còn cả những dịch vụ không đo đếm được mà nó cung cấp. Arnold cũng cho rằng sự đóng góp của các khu rừng vào sinh kế rất khó đo lường.
Tỷ lệ các sản phẩm được tiêu thụ của những người thu thập biến đối theo mùa vụ. Theo sự lựa chọn, hầu hết các thông tin chỉ là miêu tả trong tình huống rat cụ thé. Nghiên cứu của Sato (2000), rừng là nơi cung cấp cho người dân các nguồn năng lượng, lương thực, thuốc chữa bệnh cũng như các vật liệu dé làm nhà, đóng thuyền và vật liệu khác. Người dân sống dựa vào rừng ở hai khía cạnh.
Thứ nhất là phụ thuộc vao thu nhập, liên quan đến thu nhập họ có được từ bán các sản phẩm từ rừng; và thứ hai là sự phụ thuộc về sinh kế được tính toán bằng các loại sản phẩm hàng ngày. Theo Wilkes (2003) về sinh kế của người dân ở Yunnan (Trung Quốc) đã nêu ra rằng “các loại tài sản là cái quyết định trong việc duy trì sinh kế.