Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm liên quan đến tài nguyên rừng và phát triển bền vững tài nguyên rừng 1. Khái niệm rừng Rừng là một thành phần của tài nguyên thiên nhiên, thuộc loại tài nguyên tái tạo được. Ngay từ xa xưa, khái niệm về rừng đã đươc con người đưa ra tương đối phù hơp và hiểu đúng về rừng.
Lịch sử càng phát triển, những khái niệm về rừng được tích lũy, hoàn thiện thành những học thuyết về rừng. Morozov, nhà bác học người Nga (1912) định nghĩa: “Rừng là một quần xã cây gỗ, trong đó chúng biểu hiện ảnh hưởng qua lại lẫn nhau, làm nảy sinh các hiện tượng mới mà không đặc trưng cho những cây mọc lẻ. Trong rừng không những chỉ có các quan hệ qua lại giữa các cây rừng với nhau mà còn có ảnh hưởng qua lại giữa các cây rừng với đất và môi trường không khí; rừng có khả năng tự phục hồi”. Năm 1930, Morozov đưa ra khái niệm: “Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển.
Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của cảnh quan địa lý”. Tcachenco phát biểu: “Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn cảnh bên ngoài”. Tại khoản 3, điều 2 Luật lâm nghiệp năm 2017 của nước ta định nghĩa: “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, 10 nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liên vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên”.
“Tài nguyên rừng là một phần của tài nguyên thiên nhiên, thuộc loại tài nguyên tái tạo được. Nhưng nếu sử dụng không hợp lí, tài nguyên ấy có thể bị suy thoái không thể tái tạo lại”. Theo thông tư số 34/2009/TT-BNNPTNT, ngày 10/6/2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành quy định về tiêu chí xác định và phân loại rừng. Cụ thể: “Thứ nhất: Là một hệ sinh thái, trong đó thành phần chính là các cây lâu năm thân gỗ, cau dừa có chiều cao vút ngọn từ 5m trở lên (trừ rừng mới trồng và một số loài cây ngập mặn ven biển), tre nứa… có khả năng cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ và các giá trị trực tiếp và gián tiếp khác như bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và cảnh quan.
Rừng mới trồng các loài cây thân gỗ và rừng mới tái sinh sau khai thác. Rừng trồng có chiều cao trung bình trên 1,5m đối với loài cây sinh trưởng chậm, trên 3m đối với các loài cây sinh trưởng nhanh và mật độ 1000 cây/1ha trở lên được coi là rừng. Các hệ sinh thái nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có rải rác một số cây lâu năm là cây thân gỗ, tre nứa, cau dừa,… không được coi là rừng. Các loài cây được quy định như trên phải mang lại giá trị trực tiếp và gián tiếp về bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường cảnh quan, PTBV thì được xác định là rừng.
Thứ hai: Độ tàn che của tán cây là thành phần chính của rừng phải từ 0,1 trở lên. Thứ ba: Diện tích liền khoảnh tối thiểu từ 0,5 ha trở lên, nếu là dải cây rừng, phải có chiều rộng tối thiểu 20m và có từ ba hàng cây trở lên. Cây rừng trên các diện tích tập trung dưới 0,5 ha hoặc dải rừng hẹp dưới 20m được gọi là cây phân tán”. 11 Như vậy, có thể thấy: “Rừng là quần xã sinh vật trong đó cây rừng là thành phần chủ yếu và quần xã sinh vật phải có diện tích đủ lớn.
Giữa quần xã sinh vật và môi trường, các thành phần trong quần xã sinh vật phải có quan hệ mật thiết để đảm bảo khác biệt giữa hoàn cảnh rừng và các hoàn cảnh khác. Đây là một tổng thể phức tạp có mối quan hệ qua lại giữa các cá thể trong quần thể, giữa các quần thể trong quần xã và có sự thống nhất giữa chúng với hoàn cảnh trong tổng hợp đó”. Hay hiểu đơn giản thì rừng là một hệ sinh thái, là nơi sinh sống của các loài sinh vật, động thực vật, nấm và vi sinh vật. Những yếu tố này của rừng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
Biến động tài nguyên rừng Biến động rừng được hiểu là sự thay đổi về qui mô, chất lượng của rừng.Tùy vào cơ sở hay mục đích nghiên cứu mà có nhiều cách phân loại biến động tài nguyên rừng. Tuy nhiên, ta cần phải chú ý đến các đặc trưng sau: - Quy mô biến động được xem xét trong khoảng thời gian nhất định - Mức độ biến động:“là số lượng diện tích tăng hay giảm, nhiều hay ít của rừng ở năm cuối so với năm đầu của thời kì nghiên cứu”. - Xu hướng biến động “là sự tăng hoặc giảm về diện tích và biến động theo chiều hướng tốt và xấu về chất lượng”. Suy thoái rừng Theo FAO (2000) cho rằng sự suy thoái rừng là sự giảm độ tàn che của rừng hoặc khả năng cung ứng sản phẩm của rừng.
Đó là sự giảm sút độ tàn che của tài nguyên rừng rừng hoặc sức sản xuất của rừng thông qua khai thác, cháy rừng, cây đổ gãy do bão hay nguyên nhân khác, trong đó độ che phủ của tán rừng vẫn còn trên 10% (theo khái niệm về rừng). Trong một ý nghĩa khác rộng lớn hơn, suy thoái rừng là sự suy giảm dài hạn các lợi ích cung cấp toàn diện từ rừng: gỗ, các sản phẩm, dịch vụ khác của rừng. FAO (2001, 2006) đã chỉ rõ suy thoái rừng là những sự thay đổi trong rừng có tác động tới cấu trúc, vai trò của tài nguyên rừng rừng; vì vậy giảm khả năng cung cấp các lâm sản và dịch vụ từ rừng. 12 Tại “Hội nghị các bên tham gia lần thứ 9 (COP 9), suy thoái rừng định nghĩa (có tính công thức) là sự “mất rừng dài hạn trực tiếp do con người gây ra (tồn tại dai dẳng trong X năm hoặc lâu hơn) với ít nhất Y% trữ lượng các-bon (và các giá trị từ rừng) kể từ thời điểm (T) và không đủ tiêu chuẩn (để quy vào) mất rừng” (IPCC, 2003a).
Tuy nhiên, tiến tới một thỏa thuận về quy trình thực hiện giám sát, báo cáo và thẩm định suy thoái rừng lại vẫn rất khó khăn (Penman, 2008) vì khó xác định được X (mất rừng dài hạn trực tiếp do con người gây ra), Y (tỷ lệ phần trăm trữ lượng các-bon rừng) và diện tích rừng tối thiểu phải được đo đạc. Mỗi yếu tố bị ảnh hưởng bởi các hoạt động gây ra suy thái rừng và đặc điểm sinh thái của từng loại rừng cụ thể. Theo GOFC-GOLD (2008), những hoạt động phổ biến gây ra suy thoái rừng ở các vùng rừng nhiệt đới gồm có: Khai thác gỗ chọn lọc, cháy rừng ở các vùng rừng thưa và xảy ra trên diện rộng, khai thác lâm sản phi gỗ và khai thác củi đun, đốt cây lấy than, chăn thả gia súc, đốt lửa dưới tán rừng và du canh. Đối với hoạt động khai thác gỗ có chọn lọc, đã có một số nghiên cứu phân tích tác động của hoạt động này đối với mất sinh khối rừng và thời gian cần thiết để phục hồi tái sinh lại rừng.
Phần lớn các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các vùng rừng nhiệt đới ẩm. Nghiên cứu khác cũng cho thấy khai thác củi từ những vùng rừng khô thường gây ra suy thoái rừng nhiều hơn so với khai thác gỗ thương mại (Skutsch và Trines, 2008). Đây là phát hiện quan trọng vì rừng khô nhiệt đới nói chung có mật độ dày hơn rừng mưa, trong khi hàm lượng các-bon của rừng khô lại thường thấp hơn so với rừng nhiệt đới ẩm rất nhiều, chỉ bằng khoảng 42% so với rừng nhiệt đới (Murphy và Lugo, 1986)”. Tại Khoản 30 Điều 2 Luật Lâm nghiệp năm 2017 định nghĩa: “Suy thoái rừng là sự suy giảm về hệ sinh thái rừng, làm giảm chức năng của rừng”.
Như vậy: Suy thoái rừng là một quá trình phản ánh sự xuống cấp. Thể hiện trong tính chất: sự phì nhiêu, dồi dào của một khu vực rừng bị làm giảm bớt một cách vĩnh viễn. 13 Suy thoái rừng khiến rừng ít có giá trị hơn. Không thể hiện cho các lợi ích trước mắt.
Các chủ thể thay vì trồng mới và cải tạo rừng lại nghĩ đến khả năng dẫn tới phá rừng. Phát triển bền vững tài nguyên rừng Theo Uỷ ban bảo vệ môi trường Canada được thành lập năm 1915,đưa ra vấn đề phát triển bền vững với mục đích:“nhằm khuyến khích con người tôn trọng những quy luật tự nhiên và cho rằng mỗi thế hệ có quyền khai thác lợi ích từ nguồn vốn thiên nhiên, nhưng nguồn vốn này phải được duy trì nguyên vẹn cho những thế hệ tương lai để họ hưởng thụ và sử dụng theo một cách thức tương tự”. Trong báo cáo với nhan đề "Toàn thế giới bảo vệ 10 động vật hoang dã", tại Hội nghị Paris (Pháp) năm 1928, Paul Sarasin - nhà bảo vệ môi trường Thụy Sĩ đã đề cập đến phát triển bền vững: “là việc cần phải bảo vệ thiên nhiên. Mối quan hệ giữa bảo vệ thiên nhiên và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cũng là mối quan tâm hàng đầu của các tổ chức quốc tế từ sau đại chiến thế giới II”.
Hai tổ chức trên đã phối hợp chặt chẽ trong việc tìm hiểu diễn biến môi trường tự nhiên, từ đó đưa ra chương trình hành động hướng các quốc gia phát triển theo mô hình bền vững. Tại “Báo cáo Brunđtland' của Uỷ ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED) của Liên hợp quốc năm 1987 định nghĩa: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn thương đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng các nhu cầu của họ. Đó là quá trình phát triển kinh tế dựa vào nguồn tài nguyên được tái tạo tôn trọng những quá trình sinh thái cơ bản, sự đa dạng sinh học và những hệ thống trợ giúp tự nhiên đối với cuộc sống của con người, động vật và thực vật.