đặt vấn đề nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, kết cấu luận văn. Tổng quan lý thuyết và thực nghiệm. Chương này trình bày cơ sở ở lý thuyết và thực tiễn về khả năng tổn thương và sinh kế của hộ nông dân do BĐKH, trong đó tập trung giới thiệu các khái niệm liên quan đến khả năng tổn thương, sinh kế và sinh kế bền vững, khung lý thuyết sinh kế của DFID, khái niệm về biến đổi khí hậu và lược khảo các nghiên cứu khoa học có liên quan. Phương pháp nghiên cứu.
Chương này trình bày về chọn điểm nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, phương pháp phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bày về tình hình biến đổi khí hậu huyện An Minh Chương 5. Kết luận và kiến nghị chính sách.
Chương này trình bày những kết quả chính đạt được trong đề tài, các hàm ý chính sách giúp hộ nông dân sản xuất. 6 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 2. Khái niệm và định nghĩa tổn thương Tính dễ bị tổn thương là một khái niệm khá trừu tượng, được đề cập trong rất nhiều tài liệu và chưa có thống nhất.
Khái niệm tính dễ bị tổn thương đã có nhiều thay đổi theo hướng phát triển trong nhiều n ăm qua. Thông qua việc xem xét, phân tích các thành phần tham gia để đánh giá tính dễ bị tổn thương, các thành phần được xem xét để đánh giá tính dễ bị tổn thương ngày càng nhiều và đa dạng hơn, thể hiện một quá trình nhận thức toàn diện hơn về tính chất xã hội, tham gia vào quy luật tự nhiên của hệ thống. Năm 1980, Ramade cho rằng tính dễ bị tổn thương bao gồm cả con người và kinh tế - xã hội, liên quan đến khuynh hướng hàng hóa, kết cấu hạ tầng, các hoạt động bị thiệt hại và sức đề kháng của cộng đồng. Tính dễ bị tổn thương là khả năng mà một người hoặc một nhóm người tiếp xúc và bị ảnh hýởng xấu bởi tai biến (Cutter, 1993).
Trong lĩnh vực rủi ro thiên tai, tính dễ bị tổn thương bao gồm độ phơi nhiễm, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hưởng của thiên tai (Downing, 2001). Tính dễ bị tổn thương là kết quả của nguồn tài lực xã hội, điều kiện lịch sử, kinh tế, chính trị, vãn hóa, thể chế, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường và các quy trình (IPCC, 2012a). Tuy nhiên, định nghĩa trước đây của IPCC đề cập đến “mức độ mà một hệ thống nhạy cảm hoặc không thể đối phó với những tác động bất lợi của BĐKH, bao gồm các dao động theo quy luật và các cực đoan khí hậu. Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2001) định nghĩa: Sự tổn thương do BĐKH là mức độ mà một hệ thống bị tổn hại hoặc không có khả năng để đối phó với những tác động có hại của BĐKH.
Trong điều kiện biến đổi khí hậu, khả năng tổn thương là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, kinh tế, xã hội) có thể bị tổn thương do biến đổi khí hậu hoặc không có khả năng thích ứng trước những bất lợi của BĐKH (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2008, tr. Khả năng tổn thương của con người trước tác động của BĐKH 7 phụ thuộc vào 4 yếu tố sau (Armitage và Plummer, 2001; USAID, 2009): (i) Bản chất và độ lớn của BĐKH; (ii) Mức độ phụ thuộc của con người vào mức độ nhạy cảm với BĐKH (bao gồm nguồn lực: tự nhiên; vật chất; tài chính; con người, xã hội); (iii) Mức độ nhạy cảm của các nguồn lực này trước tác động của BĐKH; (iv) Năng lực thích ứng của con người trước những thay đổi của các nguồn lực nhạy cảm với BĐKH. Sinh kế (Livelihood) và Sinh kế bền vững (Sustainable livelihood) Sinh kế là một khái niệm rộng, được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Sinh kế theo cách hiểu đơn gian nhất, là phương tiện để kiếm sống.
Một định nghĩa đầy đủ hơn của Chambers và Conway (1992) về sinh kế là: “Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người”. Trong từ điển Oxpord, “Sinh kế là phương tiện để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của cuộc sống”. Một sinh kế là bền vững “khi nó có thể giải quyết được hoặc có khả năng phục hồi từ những căng thẳng và đột biến, duy trì hoặc tăng cường khả năng và nguồn lực; tạo ra các cơ hội sinh kế bền vững cho thế hệ tương lai và mang lại lợi ích ròng cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phương và cấp toàn cầu, trong thời gian ngắn hạn và dài hạn (Chambers và Conway, 1992, tr. Viện nghiên cứu phát triển (IDS) và Bộ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đã nghiên cứu khái niệm và cách tiếp cận mới về sinh kế bền vững.
Ian Scoones, một nhà nghiên cứu của Viện nghiên cứu phát triển Vương quốc Anh đã đề xuất một định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: “Sinh kế bền vững là khi mà nó có thể đương đầu và phục hồi khi trải qua những tổn thất và những cú sốc gặp phải, không những thế nó còn duy trì và nâng cao những khả năng và tài sản của mình, trong khi không làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên”. Các nghiên cứu gần đây đều thống nhất đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá về tính bền vững của sinh kế trên 4 phương diện: kinh tế, xã hội, môi trường và thể chế (Scoones, 1998 & DFID, 2001, trích bởi Trần Thọ Đạt, 2012). * Bền vững về kinh tế, được đánh giá chủ yếu bằng chỉ tiêu gia tăng thu nhập. * Bền vững xã hội, được đánh giá bằng các chỉ tiêu như: tạo thêm việc làm, giảm nghèo đói, đảm bảo an ninh lương thực, cải thiện phúc lợi.
8 * Bền vững về môi trường, được đánh giá thông qua việc sử dụng bền vững hơn các nguồn lực tự nhiên (đất, nước, rừng, tài nguyên thủy sản…), không gây hủy hoại môi trường (như ô nhiễm, suy thoái môi trường) có khả năng thích ứng những tổn thương và cú sốc bên ngoài. * Bền vững về thể chế, được đánh giá bằng: hệ thống pháp lý được xây dựng đầy đủ và đồng bộ, quy trình hoạch định chính sách có sự tham gia của người dân, các cơ quan/tổ chức ở khu vực công và khu vực tư hoạt động có hiệu quả, từ đó tạo môi trường thuận lợi về thể chế giúp các sinh kế được cải thiện liên tục theo thời gian. Khung lý thuyết về sinh kế Theo cách tiếp cận của Bộ phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) về sinh kế được mô tả trong hình 5.1 thì khung lý thuyết này phân tích đánh giá tác động qua lại của 5 nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến sinh kế hộ gia đình gồm: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) chiến lược sinh kế; (iii) kết quả sinh kế; (iv) thể chế, chính sách và (v) các yếu tố bên ngoài. H: Vốn con người S: Vốn xã hội N: Vốn tự nhiên P: Vốn vật chất F: vốn tài chính Các thể chế, chính sách Nguồn lực sinh kế Yếu tố tác động bên ngoài H Chính sách Tổ chức Ảnh - Luật -Cấp chính quyến - Cú sốc N hưởng S - Chính sách - Tổ chức tư - Xu hướng Khả năng Tiếp cận - Văn hóa - Tổ chức phi -Thời vụ F Chính phủ P Kết quả sinh kế - Tăng thu nhập - Giảm nghèo Chiến lược - Cải thiện cơ sở hạ tầng Sinh kế - Cải thiện vấn đề KT-XH - Tăng cường phúc lợi Nguồn: Krantz, 2001 Hình 2.1 Khung lý thuyết sinh kế của DFID 9 ➢ Nguồn lực sinh kế, là toàn bộ năng lực vật chất và phi vật chất mà con người có thể sử dụng để duy trì hay phát triển.
Nguồn vốn và tài sản được chia thành 5 nhóm, gồm: vốn con người, vốn vật chất, vốn tài chính, vốn xã hội, vốn tự nhiên. ▪ Vốn con người, gồm các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân của con người với tư cách là nguồn lao động xã hội như: trình độ, kỹ năng, tri thức, khả năng làm việc, sức khỏe.tất cả cộng lại tạo thành những điều kiện giúp con người theo đuổi các chiến lược sinh kế khác nhau và đạt được các mục tiêu sinh kế. ▪ Vốn vật chất, bao gồm cơ sở hạ tầng cơ bản và các loại hàng hóa thiết yếu mà người sản xuất cần để hậu thuẫn sinh kế gồm (giao thông – đường sá; xe cộ; nơi trú ẩn an toàn và các tòa nhà; cấp nước và vệ sinh môi trường; năng lượng; thông tin liên lạc; công vụ và thiết bị sản xuất,…). ▪ Vốn tài chính, được dùng để định nghĩa cho các nguồn lực tài chính hộ gia đình hoặc cá nhân con người có được, nó có thể gồm ( tiết kiệm; tín dụng – nợ; kiều hối; tiền lương; lương hưu; trang sức,…).
▪ Vốn xã hội, là mối quan hệ kết nối những con người khác nhau trong xã hội để phối hợp hoạt động có hiệu quả mục tiêu sinh kế của mình, bao gồm: (quan hệ xã hội, mạng lưới, thành viên nhóm, niềm tin, sự hiểu biết lẫn nhau và trao đổi, chia sẽ cho nhau những thông tin,. ▪ Vốn tự nhiên, là các yếu tố thuộc về tài nguyên thiên nhiên mà con người có thể khai thác và sử dụng để tạo ra giá trị một cách trực tiếp hay gián tiếp. Có rất nhiều nguồn lực tạo thành vốn tự nhiên bao gồm (đất đai; rừng; nước; các nguồn lợi thủy sản; động vật hoang dã; đa dạng sinh học,…) ➢ Thể chế, chính sách, đề cập đến môi trường, thể chế, cách thức tổ chức cùng với sự hiện diện của các chính sách, các quy định pháp luật ảnh hưởng đến các hoạt động sinh kế của người dân. ➢ Chiến lược sinh kế, dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lý các nguồn vốn và tài sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được 10 mục tiêu nguyện vọng của họ.
Ví dụ, một ngư dân kiếm sống bằng nghề đánh bắt thì cần sử dụng các nguồn lực sinh kế như: (i) nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thủy hải sản); (ii) nguồn lực vật chất (tàu, thuyền đánh cá, ngư, lưới cụ); (iii) nguồn lực con người (lực lượng lao động, sức khỏe, tri thức, kinh nghiệm đánh bắt; (iv) nguồn lực xã hội (thị trường bán sản phẩm); và (v) nguồn lực tài chính (tiền vay từ ngân hàng, bà con, bạn bè).