Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm chung Đã có một số định nghĩa về rừng phòng hộ, về rừng, mất rừng và suy thoái rừng được chấp nhận bởi một số quốc gia, tổ chức chính trị, môi trường và các cơ quan quản lý, nghiên cứu về lâm nghiệp như sau: 1. Đất lâm nghiệp Theo Luật Lâm nghiệp Việt Năm, năm 2017 (Quốc hội, 2017) [36], hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2019 thì đất lâm nghiệp là đất đã có rừng và chưa có rừng được các cơ quan chức năng có thẩm quyền của Lào quy định hoạc để sử dụng cho mục đính lâm nghiệp. Theo đó, đất lâm nghiệp được phân ra 3 loại: (1).
Đất rừng đặt dụng; (2). Đất rừng phòng hộ và (3). Đất rừng sản xuất (Lào thừa nhận đất trồng cao su là đất rừng sản xuất theo tổ chức Nông Lương thế giới). Luận điểm của luận văn này thì đất lâm nghiệp được thống nhất theo định nghĩa của Luật Lâm nghiệp Việt Nam 1.
Rừng Theo Công ước của Liên hợp quốc về Đa dạng sinh học rừng (UNEF) (UNEF/CBD/ SBSTTA, 2001), rừng được định nghĩa là diện tích đất lớn hơn 0,5 ha, có độ tàn che trên 10%, cây phải có khả năng đạt chiều cao 5 m. Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) (FAO, 2021), rừng được định nghĩa là diện tích đất có độ tàn che trên 10% và diện tích lớn hơn 0,5 ha. Các cây phải có thể đạt chiều cao tối thiểu là 5 m khi trưởng thành, hàng cây rộng trên 20 m. Có thể bao gồm một trong hai kiểu rừng: rừng kín, nơi cây có nhiều tầng và tầng sinh trưởng chiếm tỷ lệ cao trên mặt đất; hoặc rừng thưa, có độ tàn che trên 10%.
Theo Luật Lâm nghiệp Lào, năm 2018 (Quốc hội, 2018) [37], rừng 4 được định nghĩa là một hệ sinh thái bao gồm các loài thực vật rừng, động vật rừng, nấm, vi sinh vật, đất lâm nghiệp và các yếu tố môi trường khác trong đó thành phần chính là một hoặc một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao được xác định theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vật đặc trưng khác; diện tích liền vùng từ 0,3 ha trở lên; độ tàn che từ 0,1 trở lên. Theo Phụ lục I - Phân chia trạng thái rừng tại Thông tư số 33/2018/TT- BNNPTNT (Bộ NN&PTNTVN, 2018) quy định về điều tra, kiểm kê và theo dõi diễn biến rừng thì đất quy hoạch cho lâm nghiệp được chia thành đất có rừng và đất chưa có rừng. Đất có rừng là diện tích được xác định là có rừng theo Luật Lâm nghiệp 2017. Và đất chưa có rừng bao gồm: đất có cây gỗ tái sinh (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha), đất đã trồng nhưng chưa thành rừng (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha) và đất khác (đất trống, đất trồng cây nông nghiệp, mặt nước, đất có cây lâm nghiệp khác).
Theo Luật Lâm nghiệp Quốc gia Lào năm 2018 (Quốc hội, 2018) [37] Ở Lào: (i). Rừng là diện tích đất có độ tàn che trên 10% và diện tích lớn hơn 0,5 ha. Các cây phải có thể đạt chiều cao tối thiểu là 5 m khi trưởng thành, dải rộng hàng cây trên 20 m. Có thể bao gồm một trong hai kiểu rừng: rừng kín, nơi cây có nhiều tầng và tầng sinh trưởng chiếm tỷ lệ cao trên mặt đất; hoặc rừng thưa, có độ tàn che trên 10%; (ii).
Đất: đất được quy hoạch cho lâm nghiệp được chia thành đất có rừng và đất chưa có rừng. Đất có rừng là diện tích được xác định là có rừng (ở phần i). Và đất chưa có rừng bao gồm: đất có cây gỗ tái sinh (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha), đất đã trồng nhưng chưa thành rừng (trữ lượng gỗ nhỏ hơn hoặc bằng 10 m3/ha) và đất khác (đất trống, đất trồng cây nông nghiệp, mặt nước, đất có cây lâm nghiệp khác). Các quốc gia, tổ chức quốc tế khác nhau đã đưa ra những định nghĩa về rừng khac nhau.
Tuy nhiên, điểm chung là dựa trên một, hai hay cả 3 tiêu chí: diện tích tối thiểu, độ tàn che và chiều cao cây gỗ. 5 Với luận văn này, rừng được hiểu theo định nghĩa về rừng của Luật Lâm nghiệp quốc gia Lào năm 2019 (Quốc hội, 2018) [36]. Mất rừng và suy thoái rừng Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO, 2021), mất rừng là việc chuyển đổi đất lâm nghiệp sang đất sử dụng vào mục đích khác hoặc làm giảm độ tàn che của cây rừng dưới ngưỡng tối thiểu 10%. Mất rừng có hàm ý là việc mất độ che phủ rừng lâu dài hoặc vĩnh viễn hoặc chuyển sang mục đích sử dụng đất khác.
Theo Luật Lâm nghiệp Quốc gia Lào năm 2018 (Quốc hội, 2018) [36] Ở Lào, mất rừng là việc chuyển đổi đất đã có rừng sang đất sử dụng vào mục đích khác hoặc làm giảm độ tàn che của cây rừng dưới ngưỡng tối thiểu 10%. Diện tích đất có rừng mất trên một khu vực có diện tích bằng hay lớn hơn 0,5 ha. Có thể thấy, các quốc gia, các tổ chức khác nhau có những định nghĩa khác nhau về mất rừng nhưng đều liên quan đến 2 yếu tố là: chuyển đổi sử dụng đất có rừng và độ che phủ rừng. Trong đó, chỉ tiêu độ che phủ rừng có liên quan đến định nghĩa về rừng (căn cứ để xác định 1 diện tích nào đó còn đủ tiêu chuẩn là rừng hay không).
Với luận văn này, mất rừng được hiểu theo định nghĩa về rừng của Luật Lâm nghiệp quốc gia Lào năm 2018, với diện tích đất đã có rừng bị mất, hay bị suy giảm độ tàn che dưới ngưỡng tối thiểu 10% ≥ 0,5ha (Quốc hội, 2018) [36]. Khái niệm liên quan đến viễn thám và GIS 1. Viễn thám, GIS Theo Phùng Văn Khoa và Đỗ Xuân Lân (2013) [14]. Trong cuốn “Ứng dụng công nghệ không gian địa lý trong quản lý tài nguyên và môi trường lưu vực” công nghệ địa không gian (Geospatial Technology - GT) có thể được hiểu là công nghệ thu thập, tổng hợp, phân tích, trình diễn, diễn giải, chia sẻ và quản lý các dữ liệu không gian và các dữ liệu thuộc tính liên quan.
Thông thường, công nghệ địa không gian bao gồm 3 hệ thống cơ bản là: (1). Hệ 6 thống định vị toàn cầu (Global Positioning System - GPS); (2). Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information Systems - GIS) và (3). Công nghệ viễn thám (Remote Sensing - RS).
Mặc dù, khi xét về bản chất ứng dụng trong thực tiễn, ba hệ thống cơ bản đó có tính độc lập tương đối nhưng chúng có mối liên hệ chặt chẽ và bổ sung cho nhau, tùy theo từng ứng dụng trong mỗi trường hợp nhất định. Hệ thống định vị toàn cầu (GPS) GPS là hệ thống định vị toàn cầu để xác định vị trí mặt đất dựa vào các vệ tinh nhân tạo. Trong cùng một thời điểm, một vị trí cụ thể trên mặt đất sẽ được xác định trên cơ sở khoảng cách đến ba vệ tinh (tối thiểu), từ đó tính được tọa độ của vị trí đó. Các vệ tinh GPS bay vòng quanh trái đất hai lần trong một ngày theo một quỹ đạo rất chính xác và phát tín hiệu có thông tin xuống trái đất.
Các máy thu GPS nhận thông tin này và bằng phép tính lượng giá tính được chính xác vị trí của người dùng. Về bản chất máy thu GPS so sánh thời gian tín hiệu được phát đi từ vệ tinh với thời gian nhận được chúng. Sai lệch về thời gian cho biết máy thu GPS ở các vệ tinh bao xa. Rồi với nhiều khoảng cách đo được tới nhiều vệ tinh máy thu có thể tính được vị trí của người dùng và hiển thị lên bản đồ điện tử của máy.
Máy thu GPS phải kết nối tín hiệu của ít nhất ba vệ tinh để tính ra vị trí hai chiều (kinh độ và vĩ độ) và để theo dõi được chuyển động. Với bốn hay nhiều hơn số vệ tinh trong tầm kết nối thì máy thu GPS có thể tính được vị trí ba chiều (kinh độ, vĩ độ và độ cao). Hệ thống thông tin địa lý (GIS) Hệ thống thông tin địa lý xuất hiện vào giữa thập niên 1960 phản ánh những tiến bộ của công nghệ máy tính và sự ảnh hưởng của cuộc cách mạng về địa lý định lượng. GIS được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau, do đó có nhiều định nghĩa khác nhau đã được sử dụng, trong đó có 3 định nghĩa về GIS được sử dụng phổ biến: 7 - GIS là một hệ thống thông tin được thiết kế để làm việc với các dữ liệu trong một hệ tọa độ quy chiếu.
GIS bao gồm một hệ cơ sở dữ liệu và các phương thức để thao tác với dữ liệu đó. - GIS là một hệ thống tích hợp giữa phần cứng và phần mềm máy tính nhằm thu thập, lưu trữ, kiểm tra, tích hợp, thao tác, phân tích, hiển thị dữ liệu được quy chiếu cụ thể. - GIS là một chương trình máy tính hỗ trợ việc thu thập, lưu trữ, phân tích, hiển thị dữ liệu bản đồ. Công nghệ viễn thám (RS) Có rất nhiều định nghĩa về viễn thám nhưng có thể hiểu đó là ngành khoa học nghiên cứu về đo đạc, thu thập thông tin, dữ liệu, thuộc tính của các đối tượng, sự vật bằng cách sử dụng thiết bị, công nghệ đo lường từ xa, một cách gián tiếp thông quan các bước sóng ánh sáng của chúng.
Nhờ vào bộ cảm biến viễn thám, đây là thiết bị tạo ra ảnh nhờ phân tích sự phân bố của năng lượng phản xạ hay phát xạ của các vật thể khác nhau từ mặt đất thông qua quang phổ điện từ. Các đối tượng khác nhau trên mặt đất có những đặc điểm riêng khác nhau như: thành phần vật chất, kích thước, màu sắc…do đó sẽ có phản xạ không như nhau. Dựa trên các phản xạ riêng khác nhau này của các đối tượng, có thể giải đoán chúng thông qua từng kênh ảnh hoặc tổ hợp các kênh màu theo mục tiêu sử dụng. Ảnh Landsat và Sentinel - Công nghệ địa không gian Landsat: Vệ tinh Landsat -5 và Landsat 8 có chu kỳ bay 16 ngày, (độ phân giải không gian 30 m) là loại ảnh quang học có độ phân giải trung bình và thấp đang được khai thác sử dụng miễn phí từ các nhà cung cấp ảnh.
Ảnh vệ tinh Landsat 8 luận văn tải về từ chương trình Google Earth Engine [58]. Đặc trưng cơ bản của ảnh viễn thán Landsat 5 và 8 được mô tả trong bảng 1. Đặc trưng ảnh vệ tinh Lands Landsat 5 và 8 Bước sóng Độ phân giải Vệ tinh Bands (µm) (m) Band 1 0.90 15 Band 1- Coastal aerosol 0.680 30 Band 5- Near Infrared (NIR) 0.