Tinh cấp thiết của dé tài Việt Nam là một quốc gia biển với diện tích vùng biển gấp ba lần diện tích đất liền, có bờ biển dai trên 3.200 km, có các vùng biển và thềm lục địa khoảng một triệu km2. Ở biển Đông, Việt Nam có khoảng 4.000 đảo, phân bố không déu, chủ yếu tập trung ở hai khu vực vịnh Bắc bộ va Nam bộ. Những đảo, quần đảo ven biển có dân cư sinh sống như: Cô Tô, Cái Bầu (Quảng Ninh), Cát Bà, Bạch Long Vi (Hải Phòng), Hon Lớn, Hòn Tre (Khánh Hòa), Ly Sơn (Quảng Ngãi), Phú Quý (Bình Thuận), Côn Sơn (Bà Rịa-Vũng Tàu), Phú Quốc, Thổ Chu, Nam Du (Kiên Giang), quần đảo Hoàng Sa (TP Đà Nẵng), quần đảo Trường Sa (Khánh Hòa). cùng nhiều đảo nhỏ, nhiều bãi cát ngầm, bãi đá, bãi san hô.
Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyên và toàn vẹn lãnh thé của Tổ quốc ta. Ý nghĩa kinh tế lớn nhất của đảo không chỉ là giá trị vật chất của bản thân chúng mà còn là vị trí chiến lược, là cầu nối vươn ra biển ca, là điểm tựa khai thác các nguồn lợi bién, là những điểm tiền tiêu bảo vệ Tổ quốc. Nhờ có hệ thống đảo ven bờ được vận dụng làm các điểm cơ sở của hệ thống đường cơ sở thăng nên đã tạo ra vùng nội thủy rộng lớn, do đó vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa cũng được mở rộng ra hướng biển. Theo Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, quy hoạch khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên nước phải "bảo đảm việc khai thác nước không vượt quá ngưỡng giới hạn khai thác đối với các sông, không vượt quá trữ lượng có thể khai thác đối với các tầng chứa nước; đồng thời "bảo đảm gắn kết quy hoạch phát triển bền vững tài nguyên nước với các quy hoạch bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống tác hại do nước gây ra và các quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng, quy hoạch sử dụng đắt, quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội và quy hoạch quốc phòng - an ninh”.
Việt Nam được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên nước khá phong, phú. Trong đó, tai nguyên nước ngầm ở hau hết các vùng déu có trữ lượng va chất lượng khá tốt, được xem là nguồn dự trữ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân đặc biệt trên các đảo ngoài biển khơi. Tuy nhiên trong giai đoạn vài thập niên gần đây cùng với sự phát triển kính tế, quá trình đô thị hoá, sự khai thác không có quy hoạch. dẫn đến một số vùng.
nguồn nước ngằm bi suy thoái. Theo Trung tâm Quan trắc và Dự báo Tài nguyên nước vừa công bố kết quả quan tric tài nguyên nước dưới đất năm 2011 trên báo Khoa học số ra ngày 18-05-2012 khu vực Đồng bằng Bắc Bộ, Đồng bằng Nam Bộ nguồn nước ngằm đã bị suy giảm cả về trữ lượng và chất lượng. Biến đổi khí hậu, nước biển dâng cùng với sự khai thác nước ngầm thiếu khoa học sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tải nguyên nước ngầm khu vực đồng. bằng nói chung và khu vực biển đảo nói riêng có thể dẫn đến suy thoái, cạn.
kiệt và đặc biệt là khả năng xâm nhập mặn nguồn nước dưới đất là rắt lớn Để kết quả nghiên cứu phục vụ thiết thực cho xã hội, trong nghiên cứu này tôi chọn đảo Phú Quý làm khu vực nghiên cứu. Với đặc điểm đảo Phú. Quy hiện nay đang được xác định là một trong những đảo trọng điểm của nước ta về phát triển các lĩnh vực như kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng. Đảo Phú Quý đang có những bước chuyển biến mạnh mẽ vẻ cơ cấu kinh tế, chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dich vụ va du lịch.
Đảo, nằm trên tuyển đường biển nối dat a liền và quần đảo Trường Sa nên có vị trí đặc bi quan trọng trong nhiệm vụ phòng thủ quốc gia. Ngoài ra, do đặc điểm. tự nhiên trên đảo. 1m diện tích đảo bé, độ di liền, không tổn tại hoặc tồn tại dong chảy mặt trong thời gian ngắn.
Do đó, nước ngầm có ý nghĩa rất lớn đối với cuộc sống của nhân dan trên đảo. Hiện tại các công trình khai thác nước ngằm phần lớn được bố trí ven biển chỉ cách mép nước khoảng 100m đến 300m. Mực nước hạ thấp của các. giếng đến 2m so với mực nước biễn (ở khu vực các giếng khai thác của các doanh nghiệp chế biển hải sản) mới khai thác từ những năm 2003 trở lại đây.
Hiện nay các giếng của khu vực này đã có dấu hiệu nhiễm mặn đặc biệt về mùa khô các giếng đảo khai thác ct sâu khoảng Sm đến 7m ở khu vực sát biển (ở khu vực Ủy Ban Nhân dân huyện) c lầu hiệu nhiễm mặn. Vi vậy nghiên cứu "Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngầm của đảo Phú Quý tinh Bình Thuận va dé xuất biện pháp dim thiểu” là rất cần thiết, báo đảm việc khai thác và sử dụng tài nguyên nước hợp lý trên đảo, góp phần phát triển bên vững kinh tế, xã hội môi trường của huyện đảo Phú Quý. Vấn đề xâm nhập mặn đang được rất nhiều nhà khoa học, nhà quản lý cũng như người dan trên vùng biển đảo này rất quan tâm. Mục đích của đề tài Nghiên cứu ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến tài nguyên nước ngằm của đảo Phú Quý tính Bình Thuận và đề xuất biện pháp giảm thiễu.
3, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của để tài Đối tượng nghiên cứu: xâm nhập mặn nguồn nước ngầm Pham vi nghiên cứu: khu vực đáo Phú Quý tỉnh Bình Thuận. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu * Cách tiếp cận - Tiếp cận tổng hợp - Tiếp cận hệ kinh tế — sinh thái = môi trường. ~ Tiếp cận tích hợp thông tin (ảnh vién thám, bản đỗ và hệ thong GIS) - Tidp cận kế thầu, phát in các kế quả nghiên cứu và tiếp thu công nghệ * Phương pháp nghiên cứu: ~ Phương pháp kế thừa; = Phương pháp chuyên gia; ~ Phương pháp thu thập tải liệu, số liệu; ~ Phương pháp phân tích, xử lý, đánh giá số liệu; ~ Phương pháp sử dụng mô hình toán. CHUONG 1 TONG QUAN VE KHU VỰC NGHIÊN CỨU "Đặc điểm ty nhiên, vi trí địa lý Vj trí dja lý, địa hình Huyện dio Phú Quý gồm có 6 đảo nổi (Phú Quý, Hòn Tranh, Hòn “Trùng ở phía Nam, Hòn Đỏ, Hòn Den, Hòn Giữa ở phía Bắc).
Trong số đó, đảo Phú Quý là lớn nhất, có diện tích 6km, chiếm đến 97% diện nổi của toàn huyện đảo và ing khoảng 0.2% diện tích toàn tỉnh. Đảo Phú Quý nằm trên biển Đông cách thành phố Phan Thị khoảng 120km về phía Đông Nam, Đảo Phú Quý có dạng hình chữ nhật | h, chi dài Bắc - Nam khoảng 7 km, chiều rộng Đông - Tây khoảng 4,5 km , có toa độ địa lý giới han: Tir 10°2858” đến 10°33'35"Vĩ độ Bắc; Tir 108°55"13” đến 108°58"12” Kinh độ Đông. Phú Quý có tiềm năng trở thành một điểm dịch vụ chế biến và tiêu thy hải sản của một mảng ngư trường kéo dài từ Trường Sa đến Côn Đảo; tạo cho các tau đánh bắt xa bở hoạt động dài ngày hơn và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn. Ngoài ra với vị trí nằm trên đường hải vận quốc tế, Phú Quý còn có điều kiện phát triển các dich vụ sửa chữa tàu thuyền, cung cấp các dịch vụ hải cing quốc tế và các dich vụ thăm dé và khai thác dầu khí.
Địa hình của đảo Phú Quý bao gồm núi doi ở khu vực phía Bắc và đất bằng ở khu vực phía Nam, độ cao giảm dan từ Bắc xuống Nam. có núi Cam cao 106m, núi Cao Cát cao 86m; ở phía Nam có đồi Ông Dun cao. Trung tâm đảo có những day đồi cao 20-30m bị ngăn cách bởi những day đất bằng cao 10-20m. Vùng ria đảo là những day thém cao Sm, ở đây có.
nổi lên những đụn cát 10 7-8m và nơi thấp nhất là bãi Triều Dương với độ ‘ao 2m. BIEN DONG BDIOENG UB huyện "Đường giao thông 'Đường be biên. mm) Ranh giới xã Hình 1.1: Vị trí đảo Phú Quý 7 Địa hình đảo không bị phân cắt mạnh, không có sông suối, biển khong cắt vào phần đất nổi của đảo. Đặc điểm nay đã hạn chế được sự xâm nhập mặn đến nguồn nước ngọt trên dio, Thực vật rừng "Trước đây, trên đảo rừng cây rim rạp, có nhiều gỗ quý.
Nhưng hiện nay, do không được quản lý và bảo vệ nên số rừng này đã bị khai thác hết. Phần lớn cây trên đảo hiện nay là cây chắn gió trồng trên đắt cát ven biển (phi lao), cây công. nghiệp lâu năm (dừa), cây lương thực (ngô, khoai lang, sắn) và rau đậu trồng trên đất nâu đỏ. Đặc điểm khí hậu, hai văn a) Khái quất chung Dao Phú Quý nằm ở phía Nam biển Đông, thuộc vùng khí hậu hải dương đới gió mùa á xích đạo.
Gió trên đảo hoạt động theo mùa: gió mùa Tây Nam thổi từ tháng V đến tháng LX còn gió mùa Đông Bắc hoạt động tir tháng XI én tháng III năm sau. C: ing IV và X là thời gian gió mùa chuyển hướng tá Theo số liệu quan trắc khí tượng hai văn tại trạm Phú Quý từ năm 1990 đến 2005 cho thấy: - Nhiệt độ trung bình nhiều năm là 27.4°C, biên độ nhiệt ngày đêm là 4,1. ~ Tổng số giờ nắng cao, trung bình nhiều năm là 2. - Độ ấm không khí trung bình nhiều năm 1a 84.
~ Lượng bốc hơi trung bình tháng thay đôi khá lớn từ 84,1mm (tháng X) đến 131,4mm (tháng 1). Tổng lượng bốc hơi năm trung bình nhiều năm lả 1. - Lượng mưa trung bình tháng thay đổi theo mùa, từ 4. Tổng lượng mưa năm trung bình nhiều năm là 1.
= Tốc độ gió lớn gấp 2-3 lần trong đất liền; trung bình nhiều năm la 5.7mls, ic độ gió lớn nhất đạt 34m/s. - Độ caos ng biển trung bình khoảng 2,0-2,5m; cao nhất khoáng 10m, - Chế độ thuỷ triều chuyển tiếp từ chế độ nhật triều không đều ở phía sang chế độ bán nhật trí không đều ở phía Nam: mực nước triều trung. bình nhiều năm là 216cm, lớn a At là 326cm và thấ nhất là 29cm, ~ Số trận bão hàng năm ảnh hưởng trực tiếp đến đáo ít nhưng ảnh hưởng. khá lớn đến việc đánh bắt hải sản của người dân trên đảo.
- Nhiệt độ nước biển ven bờ khoảng 25-29°C; trung bình nhiều năm là 27,3°C.