Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE CO PHAN HOA DOANH NGHIEP NHA NUOC 1. DNNN VA VAI TRO CUA DNNN TRONG NEN KINH TE THỊ TRUONG. Khái niệm về DNNN: Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN) là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và té chức quản lý hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội do Nhà nước giao. DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền va nghĩa vu dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do DN quản lý, DNNN có tên gọi, con dau riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam.
Phân loại DNNN: DNNN có thé được xem xét phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau, sau đây là một số cách phân loại chủ yếu: + Phân loại theo quy mô Doanh nghiệp : Căn cứ vào tiêu thức trình độ công nghệ, vốn sản xuất và số lượng lao động của DN dé chia DNNN thành 3 loại: DN có quy mô lớn, quy mô vừa và nhỏ. Ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay tạm thời quy định DN có quy mô vừa và nhỏ là những DN có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và lao động dưới 200 người. + Phân loại theo lĩnh vực hoạt động, có thể chia thành: - DNNN hoạt động kinh doanh: là những DN hoạt động chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận. - DNNN hoạt động công ích: là những DN hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nước hoặc thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh.
+ Phân loại theo vai trò của DNNN với nền kinh tế, có thể chia thành: - Doanh nghiệp Nhà nước năm giữ 100% vốn điều lệ: trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của Chính phủ, sản xuất hoá chất đặc biệt, công nghiệp nặng, 1n đúc tiền, cung ứng dịch vụ bưu chính công ích, truyền tải, điều độ hệ thống điện quốc gia; thủy điện đa mục tiêu và điện hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng, an ninh, quản lý khai thác hệ thống kết cau hạ tầng đường sắt quốc gia, vai trò, vi trí quan trọng; quan lý khai thác các cảng hang không, sân bay có vai tro, vi tri quan trọng đối với quốc phòng, an ninh; dịch vụ an ninh bảo đảm hoạt động bay; Xổ số kiến thiết; quan lý khai thác các công trình thủy lợi, thủy nông liên tỉnh, liên huyện, kè đá lắn biển. Những doanh nghiệp thành viên có vai trò chủ yếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh, chiến lược phát triển, nắm giữ các bí quyết kinh doanh. - Những doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cổ phần hóa, Nhà nước nắm giữ 75% tông số cô phần trở lên: Quản lý khai thác bảo trì cảng hàng không, sân bay (trừ các cảng hàng không , sân bay nêu trên), cảng biển tổng hợp quốc gia, cửa ngõ quốc tế; bảo trì hệ thống đường bộ, đường thủy nội địa; bảo trì hệ thống kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia. Cung cấp cơ sở hạ tầng viễn thông, khai thác khoáng sản quy mô lớn; khai thác dầu mỏ và khí tự nhiên.
- Những doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cô phần hóa, Nhà nước nắm giữ từ 65% đến dưới 75% tông số vốn cổ phần: Chế biến dầu mỏ và khí tự nhiên; sản xuất thuốc lá điều; những doanh nghiệp đảm bảo nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống vật chat, tinh thần của đồng bao dân tộc ở miền núi, vùng sâu, vùng xa gắn với quốc phòng an ninh; trồng và chế biến cao su, cà phê, trồng và quản lý rừng; những doanh nghiệp có vai trò đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế, bình ổn thị trường hoạt động trong các lĩnh vực sau: bán buôn thuốc phòng bệnh, chữa bệnh; bán buôn lương thực; bán buôn xăng dau; Tài chính ngân hàng (không bao gồm bảo hiểm chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính) Vận chuyền hàng không; Phân phối điện. - Những doanh nghiệp thực hiện sắp xếp, cô phan hóa, nhà nước nam giữ trên 50% đến dưới 65% tổng số cỔ phần: Thoát nước đô thị; vệ sinh môi trường, chiếu sáng đô thị; khai thác, sản xuất và cung cấp nước sạch; điều tra cơ bản về địa chất, khí tượng thủy văn; khảo sát thăm dò, điều tra về tài nguyên đất, nước, khoáng sản và các loại tài nguyên thiên nhiên; sản xuất lưu giữ giống gốc cây trồng vật nuôi và tinh đông: sản xuất vắcxin sinh phẩmy tế; vắcxin thú y; san xuất hóa chất co bản, phân hóa học, thuốc bảo vệ thực vật; Trồng về chế biến cao su, cà phê, trồng và quản lý rừng; vận tải đường biển quốc tế; vận tải đường sắt. + Theo hình thức tô chức, DNNN có thé chia thành 3 loại sau: - DNNN độc lập là DN không có trong cơ cấu tổ chức của DN khác, có hội đồng quản trị, ban kiểm soát, giám đốc và bộ máy giup vIỆc. - Tổng công ty là một tập hợp có nhiều DN thành viên đặt dưới sự chỉ huy, kiểm soát hoạt động của Tổng công ty.
Tổ chức Tổng công ty có Hội đồng quản trị, ban kiểm soát, Tổng giám đốc và bộ máy giúp việc. - DNNN thành viên của tổng công ty; loại DN này có thé là đơn vị hạch toán độc lập, hạch toán phụ thuộc hay đơn vi sự nghiệp, chịu sự ràng buộc về quyên lợi và nghĩa vụ của Tổng công ty Nha nước. Vai trò của DNNN trong nền kinh tế thị trường: 1. Những đặc trưng cơ bản của nên kinh tế thị trường: Là bước phát triển cao của kinh tế hàng hoá, nên kinh tế thị trường có những đặc trưng cơ bản sau đây: Trước hết, trong nền kinh tế thị trường các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ về tài chính, tự do kinh doanh, hành nghề theo pháp luật và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Ở đây, các DNNN cũng bình đăngvà có quyền tự chủ như các DN thuộc các thành phần kinh tế khác. Thứ hai, giá cả trong nền kinh tế thị trường được hình thành theo quan hệ cung cau trên cơ sở cạnh tranh, phản ánh yêu cầu của người tiêu dùng, giá cả có tác dụng trực tiếp khuyến khích các cơ sở nâng cao hiệu quả kinh tế, áp dụng tiễn bộ khoa học - kỹ thuật, đổi mới công nghệ. Chính cơ chế giá cả đó đã bao hàm chức năng đào thải những cơ sở làm ăn thua lỗ, chất lượng kém và làm cho nền kinh tế năng động và linh hoạt hon. Ở đây, các DN (kế cả DNNN và DN tư nhân) đều cạnh tranh trong khuôn khổ quy định của luật pháp, sự cạnh tranh đó thúc đây các DN làm ăn có hiệu quả sẽ phát triển nhanh và đứng vững, ngược lại cũng dẫn đến sự phá sản nhanh chóng của các DN làm ăn thua lỗ, yêu kém.
Tuy nhiên sự phá sản của một số cơ sở thua lỗ không nhất thiết phải dẫn đến một sự phá sản hoan toàn. Kinh nghiệm cũng cho thay, một số cơ sở thua lỗ nếu được tổ chức lại, có thể sẽ hình thành các đơn vị mới làm ăn có hiệu quả hơn như nhà kinh tế hoc Aloih Schunpeter đã gọi đó là sự “tàn phá sáng tạo”. Thứ ba, đặc trưng bao trùm nhất của nền kinh tế thị trường là Nhà nước không can thiệp và kiểm soát trực tiếp đối với các hoạt động của nền kinh tế xã hội. Ở đó, nhất là đối với các nước có nền kinh tế thị trường phát triển, Nhà nước chỉ đóng vai trò như “người đứng gác”, thực hiện vai trò điều hành vĩ mô nên kinh tế bằng hệ thống pháp luật thong nhất và sử dụng triệt dé các công cụ kinh tế - tài chính.
Đề một nén kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường hoạt động tốt cần phải đảm bảo cho đồng tiền ồn định. Phải hạn chế lạm phat ở mức thấp nhất, vì lạm phát sẽ làm cho các quan hệ thị trường bị bóp méo, các ưu điểm của cơ chế thị trường bị triệt tiêu. Đồng thời, phải có vật tư hàng hoá để sản xuất, trao bình thường, tránh dẫn đến sự thiếu hụt làm hạn chế tác dụng của cơ chế thị trường. Thứ tư, tính tự phát trong nền kinh tế thị trường cũng gắn liền với ưu thé phản ứng nhanh nhạy, kịp thời đối với nhu cầu của thị trường.
Mặt khác, tính tự phát cũng đem lại những tác động tiêu cực ở tầm vĩ mô. Ở đó, các lĩnh vực khoa học, văn hoá, giáo dục, y té không hoàn toàn tuân thủ cơ chế thị trường. Nhất là ở các nước có nền kinh tế phát triển, một số lĩnh vực sản xuất lương thực, vận tải., có ý nghĩa chiến lược đối với đời sống nên cũng hoàn toàn không tuân thủ theo cơ chế thị trường. Như vậy, nền kinh tế thị trường đã chứng minh được tính ưu việt hơn han của mình.
Đó là phát huy được tiềm năng, khơi day nội lực, thúc đây tinh chủ động, sáng tạo của các cơ sở phải tự mình vươn lên đủ sức cạnh tranh dé dung vững trong co chế thi trường. Tinh cạnh tranh trong nền kinh tế thi trường cũng mang tính áp lực cao với tất cả các cơ sở kinh tế, nhất là các DN nên đã tạo ra một nền kinh tế năng động và có hiệu quả hơn do động lực vật chất tác động rất trực tiếp đến hoạt động của từng đơn vi, cá nhân, thêm vào đó có giá cả là tín hiệu phản hồi khách quan của thị trường nên các hoạt động kinh tế gần với sự thật hơn, cũng vi vậy các yếu tố chủ quan, duy ý chí giảm hơn nhiều so với nền kinh tế chỉ huy. Tuy vậy, nền kinh tế thị trường cũng bộc lộ những khuyết tật, yếu kém cần khắc phục đó là: + Thường xuyên tạo ra sự mat cân đối ở tầm vĩ mô, do đó làm giảm hiệu quả trên phạm vi của tông thé nền kinh tế, tạo ra tình trạng khập khiéng trong cơ cau kinh tế. + Với sự cạnh tranh quyết liệt nền kinh tế thị trường sẽ tạo ra sự bất bình đăng trong thu nhập và đời sống kinh tế-xã hội từ đó phát sinh sự phân hoá giàu nghéo ngày càng rõ nét.
+ Cơ chế độc quyền luôn ngự trị trong nền kinh tế thị trường, do đó nó sẽ tác động hạn chế những ưu điểm của cơ chế thị trường.