CHƯƠNG 1 CƠ SỞ PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1. Những vấn đề cơ bản về hoạt động đầu tư 1. Khái niệm về đầu tư Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm thu được các kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai. (Nguồn: Giáo trình lập dự án đầu tư, NXB đại học Kinh tế Quốc Dân - PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt) Như vậy, đầu tư liên quan đến rủi ro và thời gian.
Sự hy sinh giá trị nguồn lực diễn ra tại thời điểm hiện tại và đó là điều chắc chắn, chỉ còn lại thời gian và rủi ro là không chắc chắn. Các nguồn lực sử dụng có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là sự gia tăng tài sản vật chất, tài sản tài chính hoặc tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn cho nền kinh tế và cho toàn bộ xã hội. Vai trò của hoạt động đầu tư a.
Trên góc độ toàn bộ nền kinh tế - Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu. Vì vậy, khi quy mô đầu tư thay đổi cũng sẽ có tác động trực tiếp đến quy mô tổng cầu. Tuy nhiên, tác động của đầu tư đến tổng cầu là ngắn hạn. Khi tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư sẽ làm cho tổng cầu tăng kéo theo sự gia tăng của sản lượng và giá cả các yếu tố đầu vào.
Trong dài hạn, khi các thành quả của đầu tư được huy động và phát huy tác dụng, năng lực sản xuất và cung ứng dịch vụ gia tăng thì tổng cung cũng sẽ tăng lên. Khi đó sản lượng tiềm năng sẽ tăng và đạt mức cân bằng trong khi giá cả của sản phẩm sẽ có xu hướng đi xuống. Sản 10 Luận văn cao học QTKD Đại học Bách Khoa Hà Nội lượng tăng trong khi giá cả giảm sẽ kích thích tiêu dùng và hoạt động sản xuất cung ứng dịch vụ của nền kinh tế. (Nguồn: Giáo trình lập dự án đầu tư, NXB đại học Kinh tế Quốc Dân - PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt) - Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế.
Theo Harrod – Domar, đầu tư chính là nguồn gốc, động lực của tăng trưởng kinh tế. Chính đầu tư phát sinh ra lợi nhuận và từ đó làm tăng khả năng sản xuất của nền kinh tế do đó sản lượng sẽ ra tăng. Đầu tư thấp sẽ dẫn đến tăng trưởng thấp và ngược lại. Đối với các nước đang phát triển thì để có được tăng trưởng cao thì điều tất yếu phải có một lượng vốn đầu tư lớn, nó có vai trò như là một “cái hích ban đầu” tạo đà cho sự cất cánh của nền kinh tế.
- Đầu tư góp phần chuyển dịch cơ cấu theo xu hướng tiến bộ. Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, con đường tất yếu có thể tăng nhanh tốc độ phát triển GDP (từ 9-10%) là tăng cường đầu tư, nhằm tạo ra sự phát triển nhanh trong khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông, lâm, ngư nghiệp do hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để đạt được tốc độ từ 5- 6% là rất khó khăn. Như vậy, chính sách đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trương kinh tế nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển ra khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị… của những vùng có khả năng phát triển cao hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển. - Đầu tư vừa làm tăng năng lực công nghệ, trình độ giáo dục, y tế, giải quyết thất nghiệp qua đó tạo môi trường ổn định cho tăng trưởng và phát triển kinh tế. Công nghệ hiện đại là điều kiện cần thiết để tăng năng suất lao động, mở rộng khả năng sản xuất của xã hội, gián tiếp làm nâng cao trình độ hiểu biết của con người. Tuy nhiên, để có được công nghệ hiện đại mỗi quốc gia có thể tự nghiên cứu phát minh hoặc có thể tự nhập từ bên ngoài.
Dù cho dưới hình thức nào cũng đòi 11 Luận văn cao học QTKD Đại học Bách Khoa Hà Nội hỏi phải có vốn đầu tư. Do đó muốn nâng cao được năng lực công nghệ thì phải tăng cường đầu tư cho công nghệ. Như vậy đầu tư chính là nguồn gốc để tăng năng suất lao động. Ngoài ra khi tăng cường đầu tư vào các lĩnh vực y tế, giáo dục, sẽ làm tăng chất lượng lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển.
- Đóng góp về môi trường, xã hội: Hoạt động đầu tư làm tăng thêm công ăn việc làm cho xã hội, góp phần làm giảm thất nghiệp, tăng thu nhập, giảm tệ nạn xã hội, góp phần làm ổn định an ninh chính trị xã hội. Đối với nhà nước, dự án đầu tư là cơ sở thẩm định, ra quyết định đầu tư, tài trợ cho dư án, cấp hoặc cho vay vốn, quản lý vốn, sản phẩm. để có kế hoạch điều tiết và cân đối quá trình phát triển của nền kinh tế quốc dân. Đối với các doanh nghiệp (sản xuất, kinh doanh dịch vụ) Đối với các doanh nghiệp, đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Chẳng hạn, để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt máy móc trên nền bệ, tiến hành các công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kỳ của các cơ sơ vật chất kỹ thuật vừa tạo ra. Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư. Đối với cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất kỹ thuật đã hao mòn, hư hỏng, phải được thay đổi hoặc đổi mới để có thể thích ứng với điều kiện hoạt động của nền sản xuất xã hội và việc phải mua sắm các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư. Đối với doanh nghiệp, dự án đầu tư được lập là cơ sở để chủ đầu tư lựa chọn ra quyết định đầu tư và xin giấy phép đầu tư - kinh doanh từ cơ quan có thẩm quyền, thông qua việc xem xét lợi ích của việc thực hiệc dự án đối với doanh nghiệp và nền kinh tế.
Dự án đầu tư cũng đồng thời là cơ sở để chủ đầu tư vay vốn và gọi vốn từ bên ngoài để tiến hành thực hiện dự án. Đặc biệt đối với những dự án vay vốn của các ngân hàng, các công ty tài chính như WB, IMF. thì lập dự án càng phải thực hiện một cách đầy đủ và chi tiết. 12 Luận văn cao học QTKD Đại học Bách Khoa Hà Nội Bên cạnh đó, ngay cả khi dự án được phê duyệt và cấp vốn, việc thực hiện dự án không phải lúc nào cũng luôn suôn sẻ mà thường gặp rất nhiều khó khăn do quá trình thực hiện dự án phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khách quan và chủ quan mà dự án chưa lường tới.
Chính vì vậy, quá trình thực hiện dự án đòi hỏi phải có sự quản lý chặt chẽ của chủ đầu tư và phải theo một trình tự hợp lý để có thể đảm bảo tiến độ thực hiện, đảm bảo chất lượng công trình với chi phí nhỏ nhất, giảm thiểu những rủi ro và đạt được hiệu quả cao nhất. Muốn vậy, dự án đầu tư phải được lập một cách chi tiết, đúng đắn và đảm bảo tính hiệu quả. Các đặc điểm của hoạt động đầu tư Là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư trước hết là quyết định việc sử dụng các nguồn lực mà biểu hiện cụ thể dưới các hình thức khác nhau như: tiền, đất đai, tài sản, vật tư thiết bị, giá trị trí tuệ … Vốn được hiểu như là các nguồn lực sinh lợi. Dưới các hình thức khác nhau nhưng vốn có thể xác định dưới hình thức tiền tệ, vì vậy các quyết định đầu tư thường được xem xét từ phương diện tài chính (tốn phí bao nhiêu vốn, có khả năng thực hiện không, có khả năng thu hồi được không, mức sinh lợi là bao nhiêu …).
Nhiều dự án có thể khả thi ở các phương diện khác (kinh tế, xã hội) nhưng không khả thi về phương diện tài chính và vì thế cũng không thể thực hiện trên thực tế. Là hoạt động có tính chất lâu dài. Khác với các hoạt động thương mại, các hoạt động chi tiêu tài chính khác, đầu tư luôn luôn là hoạt động có tính chất lâu dài. Do tính lâu dài nên mọi sự trù liệu đều là dự tính, chịu một xác suất biến đổi nhất định do nhiều yếu tố.
Chính điều này là một trong những vấn đề hệ trọng phải tính đến trong mọi nội dung phân tích, đánh giá của quá trình thẩm định dự án. Là hoạt động luôn cần sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai. Đầu tư về một phương diện nào đó là một sự hy sinh lợi ích hiện tại để đánh đổi lấy lợi ích tương lai (vốn để đầu tư không phải là các nguồn lực để dành), vì vậy luôn luôn có sự so sánh, cân nhắc giữa lợi ích hiện tại và lợi ích tương lai. Rõ ràng rằng, nhà đầu tư mong muốn và chấp nhận đầu tư chỉ trong điều kiện lợi ích 13 Luận văn cao học QTKD Đại học Bách Khoa Hà Nội thu được trong tương lai lớn hơn lợi ích hiện nay họ tạm thời phải hy sinh (không tiêu dùng hoặc không đầu tư vào nơi khác).
Là hoạt động mang nặng rủi ro. Các đặc trưng nói trên đã cho thấy hoạt động đầu tư là một hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro. Bản chất của sự đánh đổi lợi ích và lại thực hiện trong một thời gian dài không cho phép nhà đầu tư lượng tính hết những thay đổi có thể xảy ra trong quá trình thực hiện đầu tư so với dự tính. Vì vậy, chấp nhận rủi ro như là bản năng của nhà đầu tư.