Luận văn: Đánh giá hiệu quả đầu tư khai thác hải sản tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Luận văn đánh giá hiệu quả đầu tư khai thác hải sản tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư bền vững.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Tác giả

Trần Anh Tuấn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2007

93
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƯ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TRONG KHAI THÁC HẢI SẢN

1.1. Đầu tư trong lĩnh vực khai thác hải sản

1.1.1. Tầm quan trọng của lĩnh vực khai thác hải sản đối với các tỉnh ven biển

1.1.2. Sự cần thiết phải đầu tư trong lĩnh vực khai thác hải sản

1.1.3. Đặc điểm đầu tư của lĩnh vực khai thác hải sản

1.1.4. Hiệu quả đầu tư trong khai thác hải sản

1.1.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư trong khai thác hải sản

1.1.6. Các phương pháp đánh giá hiệu quả đầu tư trong khai thác hải sản

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC HẢI SẢN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

2.1. Khái quát chung về lĩnh vực khai thác hải sản của tỉnh BRVT

2.1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm khí tượng thuỷ văn

2.1.2. Tiềm năng nguồn lợi hải sản vùng biển

2.1.3. Lao động và cơ sở vật chất kỹ thuật

2.1.4. Cơ cấu nghề nghiệp và sản lượng khai thác hải sản

2.2. Thực trạng hiệu quả đầu tư của một số loại nghề khai thác hải sản tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

2.2.1. Hiệu quả kinh tế của nghề lưới kéo đôi

2.2.2. Hiệu quả kinh tế của nghề lưới kéo đơn

2.2.3. Hiệu quả kinh tế của nghề lưới vây

2.2.4. Hiệu quả kinh tế của nghề lưới rê

2.2.5. Hiệu quả kinh tế của nghề câu

2.2.6. Đánh giá chung các loại nghề khai thác hải sản

3. CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CHUNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ TRONG LĨNH VỰC KHAI THÁC HẢI SẢN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

3.1. Những định hướng chung và cơ hội, thách thức trong việc phát triển nghề khai thác hải sản tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu

3.1.1. Những định hướng chung

3.1.2. Những cơ hội và thách thức

3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trong hoạt động khai thác hải sản tỉnh BRVT

3.2.1. Bố trí lại nghề khai thác hải sản một cách hợp lý

3.2.2. Giải pháp về thể chế chính sách

3.2.3. Giải pháp về nguồn nhân lực

3.2.4. Giải pháp về khoa học công nghệ

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Danh mục tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Tổng Quan Đầu Tư Khai Thác Hải Sản BR VT Tiềm Năng

Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT), tỉnh ven biển miền Đông Nam Bộ, sở hữu bờ biển dài trên 200km cùng hệ sinh thái biển đa dạng. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển ngành thủy sản, đặc biệt là khai thác hải sản. Trong 15 năm qua, ngành thủy sản đã khẳng định vai trò quan trọng trong nền kinh tế, tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống ngư dân và đóng góp vào nguồn thu ngoại tệ. Đầu tư vào khai thác hải sản tại BR-VT, do đó, được xem là một hướng đi tiềm năng. Tuy nhiên, sự phát triển nóng của đội tàu khai thác ven bờ, việc sử dụng các công cụ khai thác mang tính hủy diệt, và tình trạng ô nhiễm môi trường đã gây áp lực lên nguồn lợi hải sản. Nguồn lợi hải sản ven bờ đang suy giảm cả về chất lượng và số lượng, đặt ra những thách thức lớn cho sự bền vững của nghề khai thác. Đứng trước thực trạng này, việc đánh giá hiệu quả đầu tư của từng loại nghề khai thác hải sản trong tỉnh là vô cùng cần thiết. Kết quả đánh giá sẽ là căn cứ quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách trong quá trình quản lý và phát huy hiệu quả nghề khai thác hải sản của tỉnh trong tương lai. Luận văn thạc sỹ "Đánh giá hiệu quả đầu tư trong hoạt động khai thác hải sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu" của Trần Anh Tuấn đã đi sâu vào vấn đề này, cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư.

1.1. Vị trí địa lý và tiềm năng nguồn lợi hải sản BR VT

BR-VT có vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong vùng biển Đông Nam Bộ với tiềm năng lớn về nguồn lợi hải sản. Theo ước tính của các nhà chuyên môn, vùng biển BR-VT có khả năng khai thác 170.000 tấn hải sản. Tuy nhiên, việc khai thác quá mức và không bền vững đang đe dọa nguồn lợi này. Vùng biển của tỉnh thuộc vùng biển Đông Nam bộ; có điểm mốc từ xã Bình Châu đến giáp Cần Giờ TPHCM và hòn đảo xa nhất thuộc Côn Đảo; bởi vậy có đầy đủ đặc tính của biển Đông Nam bộ (ĐNB). Biển ĐNB nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có ảnh hưởng chế độ khí tượng hải văn, thiên về khí hậu xích đạo.

1.2. Tầm quan trọng của khai thác hải sản đối với BR VT

Nghề khai thác hải sản đóng vai trò quan trọng trong việc tạo công ăn việc làm, ổn định đời sống ngư dân và đóng góp vào nguồn thu ngân sách của tỉnh. Ngành thủy sản còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển tổng thể kinh tế xã hội miền biển cũng như các vùng khác của đất nước trong việc góp phần mở rộng thị trường nông thôn gắn nghề cá nói riêng và nông lâm ngư nghiệp nói chung với công nghiệp và dịch vụ nhằm góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá -hiện đại hoá.

II. Vấn Đề Hiệu Quả Đầu Tư Khai Thác Hải Sản Thách Thức Lớn

Mặc dù có tiềm năng lớn, hiệu quả đầu tư vào khai thác hải sản tại BR-VT đang đối mặt với nhiều thách thức. Việc phát triển nhanh chóng đội tàu đánh bắt, đặc biệt là ở vùng nước gần bờ, đã gây áp lực lớn lên nguồn lợi hải sản. Các hoạt động khai thác diễn ra khá tự do và ngày càng khó kiểm soát. Nguồn lợi hải sản ven bờ đang trong tình trạng ngày càng suy giảm cả về chất lượng và số lượng. Nghề khai thác hải sản xa bờ cũng mang tính tự phát, số lượng tàu thuyền và cơ cấu nghề nghiệp chưa hợp lý. Tất cả những yếu tố này đặt ra câu hỏi về hiệu quả kinh tế và tính bền vững của các hoạt động đầu tư vào khai thác hải sản tại BR-VT. Theo luận văn của Trần Anh Tuấn, việc bố trí và quản lý khai thác nguồn lợi hải sản một cách hiệu quả và bền vững, khai thác đi đôi với bảo vệ và phát triển nguồn lợi, là vấn đề cấp thiết cần giải quyết.

2.1. Suy giảm nguồn lợi hải sản ven bờ tại BR VT

Việc khai thác quá mức, sử dụng kích thước mắt lưới quá nhỏ, và ô nhiễm môi trường đã dẫn đến suy giảm nghiêm trọng nguồn lợi hải sản ven bờ tại BR-VT. Nhiều dấu hiệu cho thấy sự bền vững của nghề khai thác hải sản ven bờ ở Bà Rịa - Vũng Tàu đang đứng trước những thử thách về nguồn lợi và hiệu quả kinh tế.

2.2. Quản lý khai thác hải sản còn nhiều bất cập

Hoạt động khai thác hải sản vẫn đang diễn ra khá tự do và ngày càng trở nên khó kiểm soát. Nghề khai thác hải sản xa bờ ở đây cũng mang tính tự phát, số lượng tàu thuyền và cơ cấu nghề nghiệp chưa hợp lý, gây khó khăn cho các nhà quản lý và ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững.

2.3. Chi phí đầu vào tăng cao giá bán không ổn định

Chi phí nhiên liệu, vật tư, và nhân công ngày càng tăng cao, trong khi giá bán hải sản lại không ổn định, ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngư dân và hiệu quả đầu tư.

III. Đánh Giá Hiệu Quả Đầu Tư Phương Pháp Phân Tích Chi Tiết

Để đánh giá hiệu quả đầu tư khai thác hải sản tại BR-VT, cần áp dụng các phương pháp phân tích chi tiết, xem xét cả hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế - xã hội. Các chỉ số tài chính như Giá trị hiện tại ròng (NPV), Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR), và Thời gian thu hồi vốn đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá khả năng sinh lời của dự án. Bên cạnh đó, cần xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư như điều kiện tài nguyên, môi trường, nhân tố tài chính, công nghệ, và con người. Luận văn của Trần Anh Tuấn đã sử dụng kết hợp các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, và so sánh để đánh giá hiệu quả đầu tư. Nghiên cứu cũng kết hợp với Viện Kinh tế và Quy hoạch Thủy sản để thu thập và phân tích số liệu, đảm bảo tính khách quan và chính xác.

3.1. Các chỉ số tài chính quan trọng trong đánh giá

Giá trị hiện tại ròng (NPV), Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR), và Thời gian thu hồi vốn là những chỉ số tài chính quan trọng giúp đánh giá khả năng sinh lời và hiệu quả của dự án đầu tư khai thác hải sản.

3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư

Điều kiện tài nguyên, môi trường, nhân tố tài chính, công nghệ, và con người là những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư khai thác hải sản.

IV. Thực Trạng Hiệu Quả Đầu Tư So Sánh Các Loại Hình Khai Thác

Luận văn của Trần Anh Tuấn đã tiến hành đánh giá hiệu quả đầu tư của 5 loại nghề khai thác hải sản chính tại BR-VT: lưới kéo đôi, lưới kéo đơn, lưới vây, lưới rê, và nghề câu. Kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể về hiệu quả kinh tế giữa các loại hình khai thác. Nghề lưới kéo đôi, mặc dù có doanh thu cao, lại có chi phí biến đổi lớn, dẫn đến lợi nhuận thấp và thời gian thu hồi vốn dài. Các nghề khác có thể có hiệu quả hơn, tùy thuộc vào điều kiện khai thác và quản lý chi phí. Để có cái nhìn toàn diện hơn, cần phân tích chi tiết từng loại hình khai thác và so sánh các chỉ số kinh tế.

4.1. Phân tích hiệu quả kinh tế nghề lưới kéo đôi

Nghề lưới kéo đôi, mặc dù có doanh thu cao, lại có chi phí biến đổi lớn, đặc biệt là chi phí nhiên liệu, dẫn đến lợi nhuận thấp và thời gian thu hồi vốn dài. Thực tế cho thấy, nhiều tàu lưới kéo đôi đang hoạt động không hiệu quả do nguồn lợi suy giảm và chi phí tăng cao.

4.2. So sánh hiệu quả giữa các loại nghề khai thác khác

Cần so sánh hiệu quả kinh tế giữa các loại nghề khai thác khác như lưới kéo đơn, lưới vây, lưới rê, và nghề câu để xác định những loại hình có tiềm năng phát triển và đầu tư hiệu quả hơn. Việc so sánh cần dựa trên các chỉ số như doanh thu, chi phí, lợi nhuận, và thời gian thu hồi vốn.

V. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Bền Vững Khai Thác Hải Sản

Để nâng cao hiệu quả đầu tư khai thác hải sản tại BR-VT, cần có các giải pháp đồng bộ, tập trung vào việc quản lý nguồn lợi, cải thiện công nghệ khai thác, nâng cao trình độ ngư dân, và tạo môi trường đầu tư thuận lợi. Việc bố trí lại nghề khai thác hải sản một cách hợp lý, xây dựng các thể chế chính sách phù hợp, đầu tư vào nguồn nhân lực và khoa học công nghệ là những giải pháp quan trọng. Luận văn của Trần Anh Tuấn đã đề xuất các giải pháp cụ thể về vốn đầu tư, công nghệ, nguồn nhân lực, thể chế, chính sách, và quản lý nghề cá, nhằm khuyến khích cộng đồng tham gia quản lý nghề cá và bảo vệ, phát triển nguồn lợi hải sản.

5.1. Quản lý và bảo vệ nguồn lợi hải sản bền vững

Cần có các biện pháp quản lý chặt chẽ, khai thác hợp lý nguồn lợi hải sản, bảo vệ môi trường biển, và tái tạo các hệ sinh thái bị suy thoái.

5.2. Ứng dụng khoa học công nghệ trong khai thác

Đầu tư vào công nghệ khai thác hiện đại, thân thiện với môi trường, và nâng cao hiệu quả khai thác. Ứng dụng các công nghệ bảo quản sản phẩm sau khai thác để giảm thiểu hao hụt và nâng cao giá trị.

5.3. Nâng cao trình độ ngư dân và tạo việc làm ổn định

Tổ chức các lớp đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn cho ngư dân, giúp họ nắm bắt các kỹ thuật khai thác mới và quản lý kinh doanh hiệu quả. Tạo điều kiện cho ngư dân chuyển đổi sang các nghề khai thác bền vững hơn.

VI. Tương Lai Đầu Tư Khai Thác Hải Sản BR VT Bền Vững

Để đảm bảo tương lai bền vững cho ngành khai thác hải sản BR-VT, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, các nhà khoa học, và cộng đồng ngư dân. Việc thực hiện các giải pháp đồng bộ, từ quản lý nguồn lợi đến đầu tư công nghệ và nâng cao trình độ ngư dân, sẽ giúp BR-VT khai thác hiệu quả tiềm năng biển, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nghiên cứu của Trần Anh Tuấn là một nguồn tài liệu quý giá, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách và đưa ra các quyết định đầu tư đúng đắn trong lĩnh vực khai thác hải sản.

6.1. Hợp tác giữa các bên liên quan để phát triển bền vững

Sự hợp tác chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, các nhà khoa học, và cộng đồng ngư dân là yếu tố then chốt để đảm bảo sự phát triển bền vững của ngành khai thác hải sản.

6.2. Đầu tư có trách nhiệm và bảo vệ môi trường biển

Cần khuyến khích các hoạt động đầu tư có trách nhiệm, chú trọng bảo vệ môi trường biển, và đảm bảo lợi ích cho cộng đồng ngư dân.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

24/09/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá hiệu quả đầu tư trong hoạt động khai thác hải sản tỉnh bà rịa vũng tàu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Những vấn đề cơ bản về đầu tư và hiệu quả đầu tư trong khai thác hải sản Chương 2: Thực trạng về hiệu quả đầu tư của hoạt động khai thác hải sản tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Chương 3: Định hướng phát triển chung và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư trong lĩnh vực khai thác hải sản tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƢ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƢ TRONG KHAI THÁC HẢI SẢN Đầu tư hiểu theo nghĩa chung nhất là bỏ ra, sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực bỏ ra có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đạt được có thể là các mục tiêu kinh tế như sự tăng lên của các tài sản tài chính, tài sản vật chất, có thể là mục tiêu chính trị, văn hoá xã hội và các nguồn lực có đủ điều kiện để làm việc có năng suất hơn trong nền sản xuất xã hội. Trong các kết quả đạt được do quá trình đầu tư mang lại, những kết quả trực tiếp của sự hy sinh các nguồn lực là các tài sản vật chất,tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc, mọi nơi, không chỉ đối với người bỏ vốn đầu tư mà cả đối với toàn bộ nền kinh tế.

Đối với từng cá nhân, đơn vị, đầu tư là sự quyết định sự ra đời,tồn tại và tiếp tục phát triển mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Đối với nền kinh tế, đầu tư quyết định sự phát triển nền sản xuất xã hội,là chìa khoá của sự tăng trưởng của nền kinh tế. Tuỳ thuộc vào từng chủ thể và đối tượng đầu tư cụ thể mà các mục tiêu đầu tư được chú trọng khác nhau và vì vậy trong một điều kiện cụ thể thì các chủ thể đầu tư khác nhau sẽ chọn những phương pháp đầu tư khác nhau nhằm đạt được mục tiêu cao nhất có thể. Hiện nay dựa vào quá trình sở hữu và sử dụng vốn đầu tư, người ta chia hoạt động đầu tư thành hai hình thức là đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư mà chủ thể đầu tư trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý các hoạt động đầu tư.

Trong hình thức đầu tư này, người đầu tư trực tiếp điều hành các hoạt động đầu tư và chịu trách nhiệm trực tiếp đối với các kết quả do hoạt động đầu tư mang lại. - Đầu tư gián tiếp là hình thức đầu tư mà chủ thể đầu tư chuyển quyền sử dụng vốn đầu tư cho người khác mà không trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý các hoạt động đầu tư. Ở trong hình thức này chủ thể đầu tư chỉ hưởng một phần lãi suất nhất định mà không trực tiếp chịu trách nhiệm về hiệu quả của hoạt động đầu tư. Hiệu quả mang lại của một hoạt động đầu tư là rất phong phú và đa dạng, tuỳ vào từng đối tượng cụ thể mà đánh giá giá trị cũng như tầm quan trọng của những hiệu quả đó.Tuy nhiên đứng trên giác độ quản lý vĩ mô thì không phải mọi hoạt động bỏ vốn ra để tiến hành các hoạt động đều đem lại lợi ích cho nền kinh tế và đều được coi là đầu tư của nền kinh tế.

+ Đối với từng cá nhân hoặc đơn vị cơ sở thì mọi hoạt động bỏ tiền ra để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ đều được coi là các hoạt động đầu tư vì nó đem lại giá trị mới tăng thêm cho các cá nhân, đơn vị đầu tư từ những hoạt động bỏ tiền đó. + Đối với nền kinh tế thì những hoạt động bỏ vốn ra tiến hành các hoạt động đầu tư mà tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế thì mới được gọi là hoạt động đầu tư phát triển. Các tài sản mới tăng này có thể là : Máy móc nhà xưởng mới tạo ra, là sức lao động mới tăng thêm. Như vậy đầu tư phát triển là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ nhằm tạo ra các tài sản mới cho nền kinh tế.

Các hoạt động mua bán, phân phối lại, chuyển giao tài sản hiện có giữa các cá nhân tổ chức không phải là đầu tư phát triển của nền kinh tế. Nhưng xét trên một tổng thể thì đầu tư dịch chuyển (đầu tư tài chính, đầu tư thương mại ) không tự nó vận động và tồn tại nếu không có đầu tư 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phát triển và ngược lại đầu tư phát triển có thể đạt được trên quy mô lớn nếu có sự tham gia của các hình thức đầu tư trên. Đầu tƣ trong lĩnh vực khai thác hải sản 1. Tầm quan trọng của lĩnh vực khai thác hải sản đối với các tỉnh ven biển Trong 15 năm qua, tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng về sản lượng và giá trị xuất khẩu, ngành kinh tế thuỷ sản ngày càng được xác định rõ là ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong những hướng ưu tiên chủ yếu của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước hiện nay.

Các kết quả trong quá khứ đã cho thấy nghề khai thác hải sản có vai trò như thế nào trong việc tạo công ăn việc làm, ổn định và nâng cao mức sống của ngư dân vùng nông thôn và ven biển, nó cũng chứng minh tiềm năng của ngành thuỷ sản trong việc thu hút ngoại tệ và thương mại quốc tế. Những năm qua là những năm tăng trưởng liên tục của ngành thuỷ sản trên mọi mặt từ việc đầu tư phát triển lực lượng sản xuất đến tạo nguyên liệu và tiếp thị. Năng lực sản xuất hiện có đã tạo cho nghề cá nhân dân truyền thống của nước ta trong quá trình đổi mới có mức tăng tổng sản lượng là 2,5 lần. Giá trị sản phẩm ngành thuỷ sản cả nước đã đạt trên 3 tỷ USD chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng GDP của Việt Nam.

Các xí nghiệp thuộc ngành thuỷ sản nằm trong các xí nghiệp được hưởng ích lợi đầy đủ từ việc Chính Phủ tự do hoá các doanh nghiệp nhà nước, điều này dẫn đến việc hình thành một trong những ngành xuất khẩu năng động nhất Việt Nam. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam chủ yếu là tôm và một số loài mực như mực ống, mực nang, là một trong những mặt hàng xuất khẩu lớn của Việt Nam. Trên thực tế xuất khẩu thuỷ sản đã có tốc độ phát triển nhanh trong thời gian qua so với các mặt hàng khác. Ngành thuỷ sản cũng là một ngành thu hút lực lượng lao động lớn, góp phần giải quyết tình trạng thiếu công ăn việc làm ở các vùng đồng bằng ven biển.

Với dân số cả nước hiện nay khoảng 80 triệu người, toàn ngành đã thu 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hút được trên 3 triệu lao động vào sản xuất kinh doanh chưa kể tạo thêm hàng triệu việc làm cho các ngành dịch vụ liên quan. Ngành thuỷ sản còn có vai trò quan trọng trong việc phát triển tổng thể kinh tế xã hội miền biển cũng như các vùng khác của đất nước trong việc góp phần mở rộng thị trường nông thôn gắn nghề cá nói riêng và nông lâm ngư nghiệp nói chung với công nghiệp và dịch vụ nhằm góp phần chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế theo hướng công nghiệp hoá -hiện đại hoá. Một vai trò cũng rất quan trọng trong việc phát triển ngư nghiệp là việc bảo vệ an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ vùng biển khơi thuộc chủ quyền của nước ta là nơi có nhiều tàu thuyền nước ngoài thường vào khai thác trái phép và có những mưu đồ xấu. Việc phát triển nghề khai thác hải sản là đòi hỏi bức xúc và có tính chiến lược, không chỉ để phát triển kinh tế, cải thiện đời sống ngư dân mà còn góp phần không nhỏ vào việc bảo vệ an ninh quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.

Sự cần thiết phải đầu tư trong lĩnh vực khai thác hải sản Việt Nam là một quốc gia có dân số đông, mật độ dân số cao đặc biệt là vùng thành thị và vùng đồng bằng ven biển, nhìn chung nước ta vẫn đang là một nước nông nghiệp lạc hậu, cơ sở hạ tầng kinh tế kĩ thuật nghèo nàn thiếu thốn do đó mặc dù nước ta có nhiều tài nguyên phong phú nhưng chúng ta đã không đầu tư khai thác các nguồn lực đó một cách có hiệu quả cao, đặc biệt là các nguồn lực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, trình độ kĩ thuật công nghệ cao. Với điều kiện nền kinh tế còn nhiều khó khăn và lạc hậu thì trong những năm qua vùng đồng bằng ven biển của Việt Nam chủ yếu vẫn tập trung vào đầu tư phát triển nông nghiệp với hình thức phát triển hộ gia đình là chủ yếu do đó quy mô sản xuất nhỏ hẹp giá trị sản phẩm hàng hoá không cao, bên cạnh đó đất nông nghiệp ngày một thu hẹp do sự phát triển không ngừng của các ngành công nghiệp và dịch vụ trong khi dân số vẫn không ngừng tăng trưởng với một tỷ lệ khá cao đã tạo áp lực lớn đối với ngành nông nghiệp và tỷ lệ lao động thất nghiệp ở vùng đồng bằng ven biển ngày một cao. Từ khi Đảng và 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhà nước ta thực hiện đường lối mở cửa nền kinh tế, nền kinh tế xã hội không ngừng tăng trưởng về mọi mặt, nguồn vốn đầu tư không ngừng được tăng cường (cả về vốn ngân sách, vốn tín dụng, vốn huy động trong dân và vốn đầu tư của nước ngoài) là một điều kiện rất thuận lợi để chúng ta đầu tư khai thác các nguồn lực lớn có giá trị kinh tế cao nhưng đòi hỏi vốn lớn và yêu cầu kỹ thuật cao mà trước đây chúng ta chưa thể tiến hành đầu tư đúng mức và có hiệu quả cao được.Trong đó việc tiến hành đầu tư phát triển ngành thuỷ sản là một trong những ưu tiên hàng đầu trong quá trình đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ