Phần mở đầu cung cấp người đọc khái quát ý tưởng của người nghiên cứu đề tài. Người nghiên cứu sẽ tiếp tục trình bày các khái niệm về đào tạo, hiệu quả, đánh giá chương trình đào tạo, các mô hình đánh giá chương trình đào tạo trong nước và một số nước tiên tiến. Trong chương này người nghiên cứu sẽ trình bày kỹ thuật đánh giá và đề xuất mô hình đánh giá chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu của Tổng công ty Điện lực miền Nam. Các khái niệm nghiên cứu: 1.
Giáo dục, đào tạo và phát triển Các khái niệm giáo dục, đào tạo, phát triển đều đề cập đến một quá trình tương tự: quá trình cho phép con người tiếp thu các kiến thức, học các kỹ năng mới và thay đổi các quan điểm hay hành vi và nâng cao khả năng thực hiện công việc của các cá nhân. Điều đó cũng có nghĩa là giáo dục, đào tạo, phát triển được áp dụng để làm thay đổi việc nhân viên biết gì, làm như thế nào, và quan điểm của họ đối với công việc, hoặc mối quan hệ với các đồng nghiệp và các nhà quản lý. Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp mới thích hợp trong tương lai. Đào tạo: (hay còn được gọi là đào tạo kỹ năng), được hiểu là hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn các chức năng, nhiệm vụ của mình.
Nói một cách cụ thể đào tạo liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện những công việc cụ thể một cách hoàn hảo hơn. Phát triển: là hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt, liên quan tới việc nâng cao khả năng trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện các công việc tốt hơn hoặc mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. So sánh, Giáo dục, đào tạo và phát triển LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Khái niệm “giáo dục” mang ý nghĩa rộng hơn, không chỉ nhằm truyền đạt các kiến thức cơ bản hay chuyên môn hẹp, mà còn xây dựng con người với nền tảng văn hoá, lối sống, cách suy nghĩ, thể lực, bản lĩnh, giao tiếp, ý thức xã hội. Theo nghĩa tổng quát, “giáo dục” hay “đào tạo”, đều là hình thức học tập, trong đó kiến thức, kỹ năng và thói quen của người thầy được chuyển giao sang người học trò thông qua giảng dạy, huấn luyện, nghiên cứu.
Nhưng xét theo nghĩa ứng dụng cụ thể, thì “giáo dục” được sử dụng trong phạm vi rộng rãi và lâu dài hơn, với mục tiêu là con người toàn diện hơn; so với “đào tạo” thuộc lĩnh vực chuyên môn hơn, có mục tiêu thường cụ thể hơn; còn phát triển đề cập đến những cơ hội học tập giúp nhân viên trưởng thành trong tương lai. Khái niệm về lãnh đạo quản lý cấp 4 1. Lãnh đạo: là quá trình gây ảnh hưởng và dẫn đắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức 1. Quản lý: được định nghĩa là một công việc mà một người lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu.
Quản lý được giải thích như là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhưng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc. Tóm lại, quản lý là quan niệm chứ không phải kỹ thuật, là tự do chứ không phải bị khống chế, là nhiệm vụ thực tế chứ không phải lý luận; là thành tích chứ không phải tiềm năng, là trách nhiệm chứ không phải quyền lực; là cống hiến chứ không phải thăng hến; là cơ hội chứ không phải chướng ngại; là đơn giản chứ không phải phức tạp. Cấp 4: phân chia thứ bậc cấp quản lý và đây cũng là tên gọi của ngành điện quản lý theo chiều dọc (Tập đoàn Điện lực Việt Nam: Cấp 1; Tổng công ty Điện lực miền: Cấp 2; Công ty Điện lực tỉnh/TP: Cấp 3; Điện lực Quận/huyện thuộc tỉnh/TP: Cấp 4) 1. Lãnh đạo quản lý cấp 4: lãnh đạo quản lý các đơn vị cấp 4 (các Điện lực Quận/huyện thuộc tỉnh/TP và lãnh đạo các phòng chức năng thuộc Công ty Điện lực tỉnh/TP) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đánh giá chương trình đào tạo 1. Đánh giá: Theo Worthen và Sanders (1987) cho rằng đánh giá là “Quá trình xác định một cách chính quy chất lượng, hiệu quả và giá trị của một chương trình, một công trình, hoặc một chương trình đào tạo. Đánh giá bao gồm các phương pháp khảo sát, thiết kế, báo cáo, điều tra, phỏng vấn, và được tiến hành theo từng bước, như sau: - Xác ñịnh các tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng và quyết định xem các tiêu chuẩn này là tương đối hay tuyệt đối; - Tiến hành thu thập các dữ liệu và các thông tin có liên quan; - Áp dụng các tiêu chuẩn đã lựa chọn để xác định chất lượng. Chương trình đào tạo: Theo Eddie Davies (2007), một chương trình đào tạo phục vụ cho nhiều mục đích, đa dạng, hoặc triển khai thực hiện chương trình đào tạo bởi vì nhiều lý do khác nhau, cụ thể: - Thay đổi nhận thức, hành vi, bổ sung các kiến thức và kỹ năng còn khiếm khuyết; - Cung cấp nguồn nhân lực các kỹ năng mới để đạt mục tiêu của tổ chức trong tương lai khi có sự thay đổi công nghệ trong tổ chức; - Cung cấp cho học viên kiến thức và kỹ năng mới để thực hiện sự thay đổi hoặc chuyển đổi vị trí công tác khi tổ chức thấy sự cần thiết cần phải chuyển đổi hoặc luân chuyển; - Tạo cho CBCNV có nhiều kỹ năng để thích ứng với môi trường làm việc khi có sự thay đổi mô hình tổ chức và thay đổi công nghệ; - Bổ sung các kỹ năng còn khiếm khuyết ở mỗi CBCNV để hoàn thành công việc vượt mong đợi của tổ chức.
Đánh giá chương trình đào tao: Theo tác giả Huỳnh Lợi (2009): “Đánh giá chương trình đào tạo là hoạt động có tính hệ thống, nằm trong một quy trình, mà hoạt động này nhằm kiểm tra toàn bộ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 chương trình hay một phần của chương trình: đầu vào của chương trình, các hoạt động nhằm thực hiện chương trình, các nhóm khách hàng sử dụng chương trình, các kết quả (các đầu ra) và làm thế nào sử dụng hiệu quả các nguồn lực.” Đánh giá chương trình đào tạo là việc xem xét một chương trình một cách toàn diện và hệ thống. Việc đánh giá bao gồm thu thập dữ liệu về mục tiêu chương trình, nguồn lực cần thiết và nguồn lực đã sử dụng và đánh giá mức độ thực hiện chương trình. Trong việc đánh giá quy trình thực hiện chương trình, có thể thực hiện xem xét đến các yếu tố liên quan chất lượng. Mục đích và lợi ich của việc đánh giá chương trình đào tạo 1.
Mục đích: Theo Eddie Davies (2007), mục đích chung của việc đánh giá chương trình đào tạo có thể tóm tắt như sau: - Đạt được phản hồi về hiệu quả chương trình đào tạo; - Kiểm soát kết quả đào tạo đã cung cấp; - Ảnh hưởng của đào tạo đến quá trình kinh doanh của tổ chức. Lợi ích Theo Donald P. Ely và Tjeerd Plomp (1996), có rất nhiều lợi ích mang lại từ việc thực hiện đánh giá chương trình đào tạo: - Cải thiện chất lượng hoạt động của đào tạo; - Cải thiện năng lực giảng viên; - Phân biệt các hoạt động cần phát huy để phát triển và các hoạt động chồng chéo cần loại bỏ; - Tích hợp những gì đào tạo cung cấp vào sự phát triển công việc; - Hợp tác tốt hơn giữa giảng viên và nhà quản lý trong vấn đề phát triển người học; - Cung cấp những bằng chứng cụ thể về những đóng góp của đào tạo trong tổ chức - Giúp nhà quản lý theo dõi sự tiến bộ của học viên sau khi được đào tạo; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Khuyến khích tinh thần cho học viên bởi nhà quản lý quan tâm tới phát triển của học viên; - Khả năng thu lợi nhuận từ kinh phí đầu tư cho đào tạo; - Xây dựng quy trình và thủ tục cho các khóa đào tạo kế tiếp; - Xác định được các nhân tố nào là tốt giữa những giảng viên khác nhau, phương pháp giảng dạy khác nhau, cơ sở vật chất khác nhau và thái độ của học viên trong học tập. Quy trình và kỹ thuật đánh giá chương trình đào tạo 1.
Quy trình đánh giá chung của một chương trình đào tạo đưa ra kết quả đào tao: Quy trình đánh giá chung của chương trình đào tạo được nêu trong hình 1. XÁC ĐỊNH CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ THU THẬP DỮ LIỆU VÀ THÔNG TIN LIÊN QUAN ĐÁNH GIÁ CÁC TIÊU CHÍ ĐÃ CHỌN H. Quy trình đánh giá chung của chương trình đào tạo Nguồn: trích từ Huỳnh Lợi, (2009) 1. Kỹ thuật đánh giá của Quy trình đánh giá của chương trình đào tạo Huỳnh Lợi (2009) cho rằng có hai dạng chủ yếu là bảng câu hỏi và phỏng vấn.
Hai dạng này tương tự nhau, chỉ khác nhau là bảng câu hỏi ñược giao luôn cho người tham gia, còn chương trình phỏng vấn sẽ do nhà nghiên cứu nắm giữ và tiến hành. Bốn tiêu chuẩn cơ bản mà câu hỏi khảo sát phải có: - Câu hỏi phải được hỏi chính xác như trên văn bản viết; - Câu hỏi mang cùng một ý nghĩa đối với tất cả đối tượng tham gia. - Câu hỏi mọi người đều có thể trả lời; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 - Câu hỏi được mọi người sẵn sàng trả lời theo trình tự thu thập dữ liệu có sẵn. Phiếu điều tra bằng bảng câu hỏi: bảng câu hỏi là tập hợp các câu hỏi một cách hệ thống mà người đọc có thể tự trả lời qua sự hướng dẫn đơn giản từ phiếu hỏi.
Các chú ý khi sử dụng bảng câu hỏi: - Các câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu; - Các câu hỏi mở thu được câu trả lời mang tính cá nhân hơn nhưng dạng câu hỏi này khó chấm điểm hơn vì có nhiều kiểu trả lời khác nhau; - Bảng câu hỏi không quá 5 trang và mỗi câu hỏi không có quá nhiều lựa chọn. Phỏng vấn: người đánh giá nói chuyện, thu thập thông tin trực tiếp với đối tượng. Trong phương pháp phỏng vấn trực tiếp hoặc phỏng vấn qua điện thoại thì vai trò của người hỏi vô cùng quan trọng, người hỏi phải biết cách hỏi sao cho đối tượng thoải mái và có cảm giác muốn trả lời.