CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NGÀNH THÉP CỦA NHTM 1.1 Hoạt động cho vay của NHTM đối với doanh nghiệp ngành Thép 1.1 Tổng quan về ngành Thép 1.1 Lịch sử hình thành Có thể nói ngành Thép Việt Nam còn khá non trẻ, bắt đầu được xây dựng từ đầu những năm 1960. Từ những năm 1960 đến nay ngành Thép có nhiều đổi mới và tăng trưởng mạnh. Sự ra đời của Tổng công ty Thép Việt Nam năm 1990 đã góp phần quan trọng vào sự bình ổn và phát triển của ngành. Năm 1996 là năm đánh dấu sự chuyển mình của ngành Thép với sự ra đời của 4 công ty liên doanh sản xuất thép là: liên doanh thép Việt Nhật( Vinakyoei), Việt Úc ( Vinausteel), Việt Hàn( VPS) và Việt Nam – Singapore( Nasteel) với tổng công suất khoảng 840000 tấn/ năm.
Từ năm 2002- 2008, nhiều doanh nghiệp tư nhân và liên doanh nước ngoài được thành lập, và đến nay với sự phát triển mạnh mẽ đó, công suất lên tới 6 triệu tấn/ năm.2 Đặc thù của doanh nghiệp ngành Thép Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có tính riêng biệt của nó, các doanh nghiệp ngành Thép cũng có những điểm khác biệt so với các doanh nghiệp khác: - Các DN Thép chiếm phần lớn trong ngành công nghiệp nặng trong nước và chủ yếu là các doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân. - Quy mô: có thể chia thành 3 loại theo công suât : + nhóm các DN hiện đại: là các DN liên doanh như: Posco, Vinakyoei, VPS… và các DN mới thành lập như Hòa Phát, Việt – Ý, Pomina… Đây là các doanh nghiệp sử dụng công nghệ và thiết bị tiên tiến của Ytaly, Nhật Bản, sản xuất với quy mô lớn từ 250000- 400000 tấn/ năm. Luan van 2 + nhóm các DN trung bình: là các DN nhà máy của của công ty gang thép Thái Nguyên, công ty thép Miền Nam, công ty thép Đà Nẵng… Các doanh nghiệp này sử dụng công nghệ của Trung Quốc với quy mô 120000- 200000 tấn/ năm. + nhóm các DN lạc hậu: là các nhà máy có quy mô nhỏ , sử dụng thiết bị tự chế trong nước hoặc hàng thải của các nước phát triển.
công suất nằm trong khoảng 5000- 20000 tấn/ năm. -Chi phí cố định kinh doanh của các doanh nghiệp ngành Thép lớn, vì thế thời gian hoạt động của các DN là trung và dài hạn. các doanh nghiệp thép hoạt động chủ yếu dựa trên vốn vay của ngân hàng. -Nguyên liệu ngành: đầu vào cho ngành Thép là quặng sắt và thép phế.
ở Việt Nam phần lớn sử dụng thép phế để sản xuất phôi và hoàn toàn là phôi vuông để làm thép xây dựng. Phôi vuông sản xuất trong nước chỉ đáp ứng được 50% nhu cầu cán thép. 50% còn lại là từ nhập khẩu. Mặc dù tự sản xuất được 20% thép dẹt nhưng chưa có doanh nghiệp nào tại Việt Nam sản xuất được phôi dẹt mà phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Nguồn nhập khẩu thép, phôi thép các loại và thép phế của Việt Nam hiện giờ là từ Trung Quốc( là chủ yếu) và một số nước khác trên thế giới như : Nhật, Nga. Như vậy ngành Thép Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn từ biến động phôi và thép trên thế giới. Giá thép trong nước có xu hướng biến động cùng chiều với giá phôi trên thế giới. -Trình độ công nghệ, trang thiết bị : ngành Thép Việt Nam hiện nay có năng lực thực tế khoảng 3,2 triệu tấn thép cán/ năm( thép xây dựng) ; 0,5- 0,6 triệu tấn phôi thép bằng lò điện ( phôi thép vuông và cả thỏi đúc cỡ nhỏ).
Về trình độ công nghệ, thiết bị có thể chia thành 3 loại: tương đối hiện đại, trung bình và lạc hậu. -Chất lượng và cơ cấu sản phẩm : chất lượng sản phẩm thép cán xây dựng của tông công ty Thép Việt Nam và khối liên doanh nhìn chung không thua kém sản phẩm nhập khẩu. Sản phẩm của các cơ sở nhỏ( công suất < 20000 tấn/ năm) chất lượng kém, không đạt yêu cầu. Luan van 3 Hiện nay ngành Thép mới chỉ sản xuất được thép tròn trơn, tròn vằn ( 10- 40 mm) , thép dây cuộn và thép hình cỡ nhỏ.
Các sản phẩm dài sản xuất trong nước phần lớn được cán từ phôi thép nhập khẩu, khả năng tự sản xuất phôi thép trong nước còn khá nhỏ bé, chỉ đáp ứng được khoảng 28% ,còn 72% là các doanh nghiệp phải nhập từ nước ngoài. Đánh giá chung: Những năm qua tuy ngành Thép được đầu tư đáng kể và có bước phát triển tương đối mạnh mẽ ( cả quốc doanh và tư nhân) , đạt được tốc độ tăng trưởng khá ca, có tiểm lực tăng gấp hàng chục lần so với năm 1990 song vẫn còn trong tình trạng kém phát triển so với các nước trong khu vực và thế giới, thể hiện ở các mặt: + qui mô nhỏ, trang thiết bị thế hệ cũ, lạc hậu, trình độ công nghệ và mức độ tự động hóa thấp. Chất lượng sản phẩm còn hạn chế ( nhất là các doanh nghiệp tư nhân) + cơ cấu mặt hàng sản xuất hạn hẹp, đơn điệu ( mới cán được sản phẩm dài, cỡ nhỏ và vừa với loại thép phổ biến là cacbon thấp) + năng lực sản xuất phôi thép quá nhỏ bé, các nhà máy và cơ sở cán thép còn phụ thuộc nhiều vào phôi thép nhập khẩu. Toàn bộ sản phẩm cán dẹt trong nước chưa sản xuất được, phải nhập khẩu.
+ chi phí sản xuất còn cao, năng suất lao động thấp, số lượng lao động quá đông, giá thành chưa ổn định nến tính cạnh tranh chưa cao. Khả năng xuất khẩu thép còn hạn chế. Nhìn một cách tổng quát ngành Thép Việt Nam vẫn ở tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán, nặng về gia công chế biến từ phôi và bán thành phẩm nhập khẩu. Trình độ công nghệ thấp, chưa có nhiều thiết bị hiện đại hóa, cần phải đầu tư cải tạo phát triển thay thế các thiết bị cũ , lạc hậu, mới có thể cạnh tranh trong thời gian tới.2 Cho vay đối với doanh nghiệp ngành Thép.
Theo khái niệm cho vay trong quyết định 1627/2001/QĐ- NHNN về ban hành quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với DN, cho vay được định nghĩa là Luan van 4 việc NH giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vì mục đích và thoài gian thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là hoạt động quan trọng nhất của NH, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập lớn từ lãi. Hoạt động cho vay đối với NH được dựa trên QĐ 1627. Theo đó quan hệ cho vay giữa DN và NH có thể hiểu như sau: DN phải cam kết hoàn trả vốn và lãi với thời gian xác định.
Các khoản vay của NH chủ yếu có nguồn gốc từ các khoản tiền gửi của khách hàng cá nhân, tổ chức và các khoản vay mượn khác. Bản thân NH cũng có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi cho các khoản huy động trên. NH thu lợi thông qua chênh lệch lãi suất cho vay và đi vay, đồng thời sử dụng vốn vay để thực hiện hoạt động khác như đầu tư, tài trợ .2 Các hình thức cho vay của NHTM đới với DN ngành Thép. Hiện nay các NH thương áp dụng các phương pháp cho vay sau: Cho vay theo hạn mức tín dụng Đây là hình thức cho vay thuận tiện cho những DN Thép vay mượn thường xuyên , vốn vay tham gia liên tục vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong nghiệp vụ này, NH không ấn định ngày trả nợ. Khi DN có thu nhập , NH sẽ thu nợ, do đó tạo chủ động quản lý ngân quỹ cho DN. Tuy nhiên, do các lần vay không tách biệt thành các kỳ hạn nợ cụ thể nên NH khó kiểm soát hiệu quả sự dụng từng lần vay. NH chỉ có thể phát hiện vấn đề khi DN nộp báo cáo tài chính.
hoặc dư nợ lâu không giảm sút. Thường áp dụng với DN Thép có uy tín, tài chính lành mạnh. Cho vay trả góp Đây là hình thức tín dụng , theo đó NH cho phép DN Thép trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng đã theo thỏa thuận. Cho vay trả góp thường được áp dụng đối với các khoản vay trung và dài hạn, tài trợ cho tài sản cố định và tài sản lâu bền.
Số tiền trả mỗi lần được tính toán sao cho phù hợp với khả năng trả nợ ( thương là từ khấu hao và thu nhập sau thuế của dự án, hoặc thu nhập hàng kỳ của người tiêu dùng) Luan van 5 Cho vay luân chuyển Đây là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa. DN Thép khi mua hàng có thể thiếu vốn. NH có thể cho vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi DN bán hàng. Đầu năm hoặc đầu quý , người vay phải làm đơn xin vay luân chuyển.
DN và NH thỏa thuận với nhau về phương thức cho vay. Hạn mức tín dụng có thể thỏa thuận trong vòng 1 năm hoặc vài năm. Đây không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn NH xem xét lại mối quan hệ giữa NH và DN cũng như tình hình tài chính của DN. Cho vay theo hạn mức thấu chi Đây là phương thức cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận cho doanh nghiệp Thép chi vượt số tiền có trong tài khoản vãng lai tới một hạn mức nhất định có trong thời gian quy định.
Như vậy tiền vay được rút trực tiếp từ tài khoản tiền gửi. Lãi tiền vay phải được tính theo số dư nợ thực tế trên tài khoản, DN có thể hoàn trả tiền vay bằng cách gửi tiền vào tài khoản tiền gửi. Hình thức này gây rủi ro cho ngân hàng vì ngân hàng không giám sát được khi nào DN rút tiền và sử dụng vào mục đích gì. Để giảm bớt rủi ro ngân hàng luôn lựa chọn doanh nghiệp Thép có khả năng tài chính cao, có uy tín lớn, có nguồn thu nhập ổn định và kì thu nhập ngắn.
Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Đây là phương thức cho vay trong đó tổ chức tín dụng chấp thuận cho DN Thép được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ và rút tiền mặt tạ máy rút tiền tự động hoặc điểm ứng tiền mặt là đại lý của tổ chức tín dụng.3 Vai trò của hoạt động cho vay của NHTM. Cho vay là hoạt động tín dụng điển hình của NHTM có vai trò quan trọng trong hoạt động của NHTM nói riêng, khách hàng và kinh tế nói chung.