Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam trong những năm qua đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ về cải tiến con giống, thức ăn, chuồng trại và kỹ thuật thú y, mang lại hiệu quả kinh tế và nâng cao đời sống cho người nông dân. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của các đàn bò sữa trong khu dân cư nông thôn cũng kéo theo các hệ lụy môi trường nghiêm trọng. Phân, nước tiểu, nước rửa chuồng và các loại khí phát sinh như amoniac ($NH_3$), hydro sunfua ($H_2S$), metan ($CH_4$) không chỉ gây mùi hôi thối mà còn làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các mầm bệnh nguy hiểm lây lan sang vật nuôi và con người.

Tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, nghề nuôi bò sữa bắt đầu hình thành từ năm 2000 dựa trên mô hình điểm do huyện chỉ đạo, tận dụng diện tích đất bãi ven sông rộng lớn để trồng cỏ voi cùng sự hỗ trợ kỹ thuật từ Trung tâm bò sữa Ba Vì và Dự án sữa Việt - Bỉ. Nhờ hiệu quả kinh tế từ việc bán sữa tươi, quy mô đàn bò sữa tại địa phương tăng nhanh. Tuy nhiên, đặc thù chăn nuôi tại xã Vĩnh Thịnh là chuồng trại được xây dựng xen kẽ trực tiếp trong khu dân cư đông đúc, khoảng cách từ chuồng nuôi đến nhà ở chỉ cách vài mét, nhiều hộ đặt chuồng ngay sát đường giao thông. Lượng chất thải chăn nuôi xả thải hàng ngày rất lớn trong khi các biện pháp xử lý hiện có chưa giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm.

Khóa luận được thực hiện nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Đánh giá hiện trạng chăn nuôi bò sữa ở địa phương.
  2. Đánh giá ảnh hưởng từ việc chăn nuôi bò sữa tới môi trường và các biện pháp xử lý chất thải phát sinh trong quá trình chăn nuôi.
  3. Đánh giá hiệu quả của chế phẩm Bio - TMT trong xử lý ô nhiễm môi trường do chăn nuôi bò sữa trong khu dân cư tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014.

Nhiệm vụ của nghiên cứu bao gồm việc thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp trung thực; khảo sát thực trạng chuồng trại và phương thức xả thải; xây dựng mô hình thử nghiệm ứng dụng chế phẩm sinh học Bio - TMT trong xử lý phân chuồng, nước thải và mùi hôi; lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh vật trong phòng thí nghiệm; từ đó đề xuất các giải pháp kỹ thuật có tính khả thi tại địa phương.

  • Đối tượng nghiên cứu: Chế phẩm sinh học Bio - TMT (ở dạng bột và dạng dung dịch); đàn bò sữa giống Holstein Friesian (HF) thuần và bò lai.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; thực nghiệm được tiến hành trực tiếp tại các trang trại chăn nuôi bò sữa ở thôn An Lão Trên; khảo sát điều tra trên phạm vi 16 thôn trong xã.
  • Phạm vi thời gian: Số liệu thực nghiệm và điều tra được thực hiện từ tháng 06/2014 đến tháng 12/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên hệ thống cơ sở pháp lý, quy chuẩn môi trường hiện hành của Việt Nam, kết hợp với các nguyên lý sinh thái và công nghệ sinh học xử lý chất thải chăn nuôi:

  • Hệ thống văn bản pháp luật và quy chuẩn áp dụng: Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13; Nghị định 19/2015/NĐ-CP; Nghị định 179/2013/NĐ-CP; Quyết định 16/2008/QĐ-BTNMT; Thông tư 07/2007/TT-BTNMT; Thông tư 04/2010/TT-BNNPTNT; Tiêu chuẩn ngành 10 TCN 678:2006 về nước thải chăn nuôi; QCVN 01-79:2011/BNNPTNT; QCVN 39:2011/BTNMT; QCVN 40:2011/BTNMT; các tiêu chuẩn quốc gia về lấy mẫu TCVN 6663-1:2011, TCVN 6663-3:2008, TCVN 5994:1995, TCVN 5996:1995 và TCVN 5999:1995.
  • Khung lý thuyết về chất thải chăn nuôi: Phân loại chất thải thành ba nhóm (chất thải rắn, chất thải lỏng và chất thải khí). Phân bò tươi chứa nhiều chất hữu cơ chưa phân giải, khoáng chất ($P_2O_5$, $K_2O$, $CaO$, $MgO$) và vi sinh vật đường ruột. Nước tiểu giàu đạm tồn tại dưới dạng urê, axit uric, axit hippuric. Nước thải chứa hàm lượng cao các chất lơ lửng, nhu cầu oxy sinh học ($BOD_5$), nhu cầu oxy hóa học ($COD$), nitơ, photpho và vi khuẩn gây bệnh ($Salmonella$, $Shigella$, $E.;coli$, $Coliform$).
  • Tổng quan công nghệ vi sinh vật hữu hiệu (EM): Dựa trên phát minh của GS.TS Teruo Higa (Đại học Ryukyus, Nhật Bản) từ đầu những năm 1980 với tổ hợp khoảng 80 loài vi sinh vật thuộc 5 nhóm chức năng: vi khuẩn quang hợp, vi khuẩn lactic, xạ khuẩn, nấm men và vi khuẩn Bacillus. Cơ chế hoạt động tương hỗ giúp phân giải hợp chất hữu cơ khó tiêu, ức chế vi khuẩn có hại và khử các khí sinh mùi hôi.
  • Chế phẩm Bio - TMT: Sản phẩm nghiên cứu của Khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, ứng dụng tổ hợp vi sinh vật hữu hiệu để phân hủy xenluloza, lignin, tinh bột, protein, chuyển hóa lân khó tiêu thành dễ tiêu và giảm hình thành các hợp chất gây mùi hôi như $H_2S$, $NH_3$, indol, skatol.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập số liệu bao gồm:

  1. Phương pháp điều tra xã hội học: Thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn ngẫu nhiên 50 hộ gia đình chăn nuôi bò sữa tại địa phương về quy mô, phương thức vệ sinh, tình trạng chuồng trại và việc tiếp cận các biện pháp xử lý chất thải.
  2. Phương pháp bố trí thí nghiệm thực địa: Lựa chọn 3 cơ sở chăn nuôi có số lượng bò sữa bằng nhau (7 con/hộ) tại thôn An Lão Trên, chia làm 3 lô:
    • Lô 1 và Lô 2 (Nghiệm thức): Bố trí tại hộ ông Nguyễn Văn Thắng và ông Đặng Văn Nhãn. Áp dụng đồng bộ chế phẩm Bio - TMT gồm: (1) Hòa 5 ml Bio - TMT vào 5 lít nước phun lên 10 kg cỏ tươi, ủ 15 phút rồi cho bò ăn; (2) Pha loãng tỷ lệ 1/5 - 1/10 phun trực tiếp lên nền chuồng 2 ngày/lần để khử mùi; (3) Ủ phân chuồng theo quy trình vi sinh 5 bước (tỷ lệ 1 lít chế phẩm/5 lít nước, chia thành 6 lớp phân dày 20 - 25 cm, duy trì độ ẩm 45 - 50%, ủ trong 55 - 60 ngày, đảo trộn định kỳ sau 10 - 15 ngày).
    • Lô 3 (Đối chứng): Bố trí tại hộ ông Đặng Văn Bạch, không sử dụng chế phẩm Bio - TMT, giữ nguyên tập quán chăn nuôi truyền thống.
  3. Phương pháp lấy mẫu và phân tích phòng thí nghiệm: Lấy mẫu vào ngày 10/10/2014 tại 2 vị trí thực nghiệm:
    • Mẫu đối chứng: Nước thải (NT) và phân chuồng (MP) tại hộ ông Đặng Văn Bạch (tọa độ: $21^\circ 16' 646''$ B, $105^\circ 47' 648''$ Đ).
    • Mẫu xử lý bằng chế phẩm: Nước thải (NT-01) và phân chuồng (MP-01) tại hộ ông Đặng Văn Nhãn (tọa độ: $21^\circ 18' 543''$ B, $105^\circ 48' 980''$ Đ).
    • Địa điểm phân tích: Phòng phân tích hóa học - Viện Khoa học Sự sống, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
    • Chỉ tiêu và tiêu chuẩn phân tích: pH (TCVN 6492:2011), $BOD_5$ (TCVN 6001-1:2008), $COD$ (TCVN 4565-88), Nitơ tổng số (TCVN 6498:1999), Photpho tổng số (TCVN 6499:1999), Kali tổng số (TCVN 8660:2011), vi khuẩn $E.;coli$ và $Coliform$ (TCVN 6187:1996).
  4. Phương pháp xử lý số liệu: Thống kê, xử lý dữ liệu định lượng bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu nêu rõ tính cấp thiết của việc bảo vệ môi trường nông thôn trong bối cảnh chăn nuôi bò sữa phát triển nhanh chóng tại xã Vĩnh Thịnh. Tác giả xác lập 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, 4 yêu cầu kỹ thuật đối với đề tài và phân tích ý nghĩa lý luận cũng như ý nghĩa thực tiễn của việc tìm kiếm giải pháp sinh học giải quyết ô nhiễm do chất thải chăn nuôi bò sữa trong khu dân cư.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện các cơ sở lý luận và tài liệu nghiên cứu liên quan:

  • Lịch sử phát triển chăn nuôi bò sữa trên thế giới và tại Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến nay, làm rõ sự chuyển đổi cơ cấu giống từ bò địa phương lai Sind sang giống bò thuần Holstein Friesian (chiếm 95% đàn sữa cả nước).
  • Cơ chế gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí do chất thải gia súc; tổng hợp danh mục các vi sinh vật gây bệnh trong phân (như Salmonella Typhi, Shigella spp, Vibrio cholerae, Taenia saginata...) và bảng ngưỡng nồng độ giới hạn tiếp xúc của các khí độc ($NH_3$, $H_2S$, $CO_2$, $CH_4$).
  • Đánh giá ưu nhược điểm của các phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi truyền thống: hóa học (trung hòa, keo tụ - tạo bông), vật lý (lắng, lọc song chắn) và sinh học (kỵ khí, hiếu khí).
  • Tổng quan công nghệ EM và lịch sử chuyển giao về Việt Nam từ thập niên 1990; đặc tính kỹ thuật, tác dụng phân giải và cơ chế đệm lót sinh học của chế phẩm Bio - TMT do Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nghiên cứu.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết đối tượng, phạm vi nghiên cứu, mốc thời gian thực hiện (06/2014 - 12/2014) và 6 nội dung nghiên cứu trọng tâm. Tác giả mô tả chi tiết phương pháp điều tra 50 hộ dân bằng bảng hỏi, quy trình bố trí 3 lô thí nghiệm trên các trại bò 7 con tại thôn An Lão Trên, quy chuẩn kỹ thuật 5 bước ủ phân vi sinh, định vị tọa độ địa lý các điểm lấy mẫu và danh mục quy chuẩn TCVN dùng trong phân tích phòng thí nghiệm tại Viện Khoa học Sự sống.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ kết quả khảo sát thực tế và phân tích thực nghiệm:

  • Tình hình chăn nuôi bò sữa tại địa phương: Tổng hợp cơ cấu đàn bò sữa xã Vĩnh Thịnh. Tính đến tháng 06/2014, toàn xã có 750 hộ chăn nuôi với tổng đàn 3.214 con bò sữa, phân bố trên 16 thôn. Trong đó, thôn Khách Nhi Ngược có số lượng lớn nhất (146 hộ, 549 con); thôn Hệ có số lượng ít nhất (10 hộ, 30 con). Toàn xã có 1.296 con bò đang khai thác sữa, 1.267 con bò hậu bị từ 7 tháng đến đẻ lứa 1, và 432 con bê dưới 6 tháng tuổi.
  • Quy mô hộ chăn nuôi: Khảo sát 50 hộ dân cho thấy 90% số hộ (45 hộ) nuôi ở quy mô nhỏ dưới 10 con (chủ yếu 5 - 7 con/hộ); 10% số hộ (5 hộ) nuôi quy mô 10 - 15 con; không có hộ nào chăn nuôi quy mô trên 15 con.
  • Thực trạng phát sinh và xả thải chất thải: Thói quen vệ sinh chuồng trại trung bình 3 lần/ngày bằng nước dội, làm phát sinh lượng nước thải rất lớn. Hầu hết chuồng trại nằm cách nhà ở chỉ vài mét. Về nơi tiếp nhận chất thải chưa qua xử lý: 58% hộ dẫn vào hầm biogas, 30% xả thẳng ra hệ thống cống rãnh chung của làng xã, 10% xả trực tiếp ra ao, hồ, sông, suối và 2% để tràn tự do ra đất.
  • Tác động môi trường và bất cập của các biện pháp hiện có: Khí thải chuồng trại gây ô nhiễm không khí cục bộ; nước thải dồn ứ tạo thành các dòng nước đen hôi thối làm suy giảm nồng độ oxy hòa tan và gây hiện tượng phú dưỡng hóa. Hệ thống hầm biogas bộc lộ các nhược điểm: chi phí xây dựng cao, khó mở rộng quy mô và khó khăn trong khâu thu gom bùn cặn lắng. Biện pháp ủ phân truyền thống không tuân thủ kỹ thuật làm thất thoát dinh dưỡng và không tiêu diệt được mầm bệnh.
  • Kết quả thực nghiệm ứng dụng chế phẩm Bio - TMT: Triển khai thử nghiệm tại 2 hộ gia đình ông Thắng và ông Nhãn (quy mô 7 con/hộ) đối chứng với hộ ông Bạch (7 con). Tác giả thực hiện quan trắc, phân tích sự thay đổi các thông số hóa lý, vi sinh của nước thải, phân chuồng và mức độ suy giảm mùi hôi chuồng trại, đồng thời khảo sát sự đồng thuận và mong muốn tiếp cận chế phẩm của người dân tham quan mô hình.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các phát hiện then chốt về thực trạng ô nhiễm môi trường do chăn nuôi bò sữa tại xã Vĩnh Thịnh, khẳng định tính hiệu quả của giải pháp sử dụng chế phẩm vi sinh Bio - TMT và đưa ra các kiến nghị kỹ thuật, quản lý nhằm nhân rộng mô hình.


Kết quả và đóng góp

Số liệu hiện trạng chăn nuôi và môi trường tại xã Vĩnh Thịnh

Dữ liệu điều tra của tác giả phản ánh bức tranh chăn nuôi bò sữa tập trung dày đặc trong khu dân cư nông thôn tại xã Vĩnh Thịnh vào năm 2014 qua các bảng tổng hợp sau:

Chỉ tiêu phân loại Phân nhóm quy mô Số hộ (hộ) Tỷ lệ (%)
Quy mô chăn nuôi bò sữa < 10 con 45 90,0
10 - 15 con 5 10,0
> 15 con 0 0,0
Nguồn tiếp nhận chất thải chưa qua xử lý Bể biogas 29 58,0
Cống thải chung của làng xã 15 30,0
Ao, hồ, sông, suối 5 10,0
Tràn ra đất 1 2,0

Thống kê chi tiết cơ cấu đàn bò sữa tại 16 thôn thuộc xã Vĩnh Thịnh (thời điểm tháng 06/2014) ghi nhận:

  • Tổng số hộ chăn nuôi toàn xã: 750 hộ.
  • Tổng đàn bò sữa: 3.214 con.
  • Số lượng bò đang khai thác sữa: 1.296 con; bò hậu bị (từ 7 tháng đến đẻ lứa 1): 1.267 con; bò cạn sữa: 219 con; bê từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi: 432 con.
  • Các thôn có đàn bò lớn nhất: Thôn Khách Nhi Ngược (146 hộ, 549 con), thôn Khách Nhi Xuôi (78 hộ, 360 con), thôn An Lão Ngược (71 hộ, 360 con), thôn An Lão Xuôi (80 hộ, 317 con).

Kết quả kỹ thuật và giải pháp đề xuất

  • Xác lập quy trình ứng dụng Bio - TMT phù hợp điều kiện nông hộ: Khóa luận đã chuẩn hóa quy trình sử dụng chế phẩm Bio - TMT theo 3 hình thức: (1) Phun thức ăn nhằm hỗ trợ tiêu hóa và giảm mùi phân thải từ nguồn; (2) Phun dung dịch pha loãng (tỷ lệ 1/5 - 1/10) trực tiếp lên sàn chuồng định kỳ 2 ngày/lần để khử mùi hôi; (3) Quy trình 5 bước ủ phân chuồng yếm khí/hiếu khí có che phủ bạt, kiểm soát nhiệt độ đống ủ đạt 40 - 50°C, giúp rút ngắn thời gian hoai mục xuống còn 55 - 60 ngày.
  • Kiểm chứng hiệu quả xử lý qua phân tích đối chứng: Thiết lập tọa độ và tiến hành lấy mẫu phân tích đối chứng giữa mô hình có sử dụng Bio - TMT (chuồng hộ ông Nhãn) và mô hình không sử dụng (chuồng hộ ông Bạch) đối với các thông số $pH$, $BOD_5$, $COD$, Nitơ tổng số, Photpho tổng số, Kali tổng số, vi khuẩn $E.;coli$ và $Coliform$.
  • Đóng góp khoa học và thực tiễn: Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm thực tế tại địa phương về tải lượng ô nhiễm chăn nuôi bò sữa hộ gia đình; chứng minh tính khả thi của giải pháp sử dụng chế phẩm vi sinh bản địa (do Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nghiên cứu) để khắc phục tình trạng ô nhiễm không khí và chất thải rắn, lỏng trong điều kiện chuồng trại không đủ diện tích xây dựng hệ thống xử lý nước thải công nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế:
    • Quy mô thử nghiệm thực tế còn hẹp, mới chỉ triển khai áp dụng thí nghiệm trên 2 hộ gia đình (ông Nguyễn Văn Thắng và ông Đặng Văn Nhãn) với tổng số 14 con bò sữa, đặt tại cùng một thôn (thôn An Lão Trên).
    • Đợt lấy mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm mới thực hiện vào một thời điểm duy nhất (ngày 10/10/2014), chưa theo dõi biến thiên chất lượng nước thải và phân ủ qua các mùa khác nhau trong năm.
    • Chưa tính toán chi tiết bài toán chi phí - lợi ích kinh tế (hạch toán chi phí chế phẩm so với giá trị kinh tế thu được từ phân vi sinh hoai mục).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi thử nghiệm chế phẩm Bio - TMT trên diện rộng tại các thôn khác của xã Vĩnh Thịnh và các vùng chăn nuôi bò sữa lân cận.
    • Nghiên cứu ảnh hưởng dài hạn của việc bổ sung chế phẩm Bio - TMT trong khẩu phần ăn đối với sản lượng sữa, chất lượng sữa và sức đề kháng bệnh viêm vú của bò sữa.
    • Nghiên cứu hoàn thiện quy trình đóng bao, thương phẩm hóa phân chuồng ủ vi sinh Bio - TMT phục vụ trồng trọt nông nghiệp sạch.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Nông nghiệp và Chăn nuôi - Thú y làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu về xử lý chất thải nông thôn.
    • Cán bộ quản lý môi trường, khuyến nông cấp xã, huyện trong việc xây dựng phương án giảm thiểu ô nhiễm tại các làng nghề, xã chăn nuôi tập trung.
    • Các hộ chăn nuôi bò sữa quy mô vừa và nhỏ có chuồng trại xen kẽ trong khu dân cư.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng cao:
    • Bản mô tả quy trình kỹ thuật 5 bước ủ phân vi sinh bằng chế phẩm sinh học kết hợp kiểm soát ẩm độ và nhiệt độ.
    • Phương pháp thiết kế bảng hỏi và tổ chức khảo sát xã hội học môi trường tại địa bàn nông thôn.
    • Quy cách định vị, lấy mẫu và hệ thống chỉ tiêu phân tích nước thải, phân gia súc theo các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

1. Đàn bò sữa tại xã Vĩnh Thịnh vào thời điểm nghiên cứu có quy mô như thế nào và phân bố ra sao?
Tính đến tháng 06/2014, xã Vĩnh Thịnh có 750 hộ chăn nuôi bò sữa với tổng đàn 3.214 con trên 16 thôn. Trong đó, thôn Khách Nhi Ngược nuôi nhiều nhất với 549 con (146 hộ), thôn Hệ nuôi ít nhất với 30 con (10 hộ). Cơ cấu đàn gồm 1.296 con bò đang khai thác sữa, 1.267 con bò hậu bị, 219 con bò cạn sữa và 432 con bê.

2. Quy mô chuồng trại của các hộ gia đình chăn nuôi bò sữa tại địa phương chủ yếu ở mức nào?
Theo kết quả điều tra 50 hộ chăn nuôi của đề tài, 90% số hộ (45 hộ) nuôi ở quy mô nhỏ dưới 10 con (chủ yếu tập trung từ 5 đến 7 con/hộ), chỉ có 10% số hộ (5 hộ) nuôi quy mô từ 10 đến 15 con, và không có hộ nào nuôi trên 15 con.

3. Tỷ lệ xả thải chất thải chăn nuôi chưa qua xử lý vào các nguồn tiếp nhận tại xã Vĩnh Thịnh được ghi nhận như thế nào?
Số liệu điều tra cho thấy có 58% số hộ xả chất thải vào bể biogas, 30% xả trực tiếp vào hệ thống cống rãnh chung của làng xã, 10% xả thẳng ra ao, hồ, sông, suối và 2% để chất thải tràn tự do trên bề mặt đất.

4. Chế phẩm Bio - TMT được sử dụng trong mô hình thử nghiệm thông qua những phương thức kỹ thuật nào?
Chế phẩm được áp dụng qua ba phương thức: (1) Hòa 5 ml chế phẩm với 5 lít nước phun cho 10 kg cỏ tươi làm thức ăn cho bò; (2) Pha loãng tỷ lệ 1/5 - 1/10 với nước phun trực tiếp lên sàn chuồng 2 ngày/lần để khử mùi; (3) Pha tỷ lệ 1/5 với nước tưới ẩm theo 6 lớp phân chuồng (dày 20 - 25 cm/lớp) để ủ phân vi sinh hoai mục trong 55 - 60 ngày.

5. Việc lấy mẫu kiểm chứng hiệu quả của chế phẩm Bio - TMT được thực hiện tại các vị trí nào và phân tích những chỉ tiêu gì?
Mẫu được lấy vào ngày 10/10/2014 tại hai cơ sở: chuồng nuôi hộ ông Đặng Văn Bạch (mẫu đối chứng NT và MP, tọa độ 21°16'646'' B, 105°47'648'' Đ) và chuồng nuôi hộ ông Đặng Văn Nhãn (mẫu xử lý Bio - TMT NT-01 và MP-01, tọa độ 21°18'543'' B, 105°48'980'' Đ). Mẫu được phân tích tại Viện Khoa học Sự sống (Đại học Nông Lâm Thái Nguyên) với các chỉ tiêu: pH, $BOD_5$, $COD$, Nitơ tổng số, Photpho tổng số, Kali tổng số, $E.;coli$ và $Coliform$.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Hà Mạnh Quyền đã phản ánh toàn diện thực trạng ô nhiễm môi trường do chăn nuôi bò sữa quy mô hộ gia đình xen kẽ trong khu dân cư tại xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2014. Đề tài đã xây dựng thành công quy trình thử nghiệm ứng dụng chế phẩm sinh học Bio - TMT trong khử mùi chuồng trại, bổ sung thức ăn và ủ phân vi sinh hoai mục. Các kết quả phân tích đối chứng và khảo sát xã hội học trong khóa luận khẳng định chế phẩm sinh học là giải pháp kỹ thuật phù hợp, khả thi nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường chăn nuôi trong điều kiện nông thôn hiện nay.