Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả can thiệp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại tỉnh bến tre full text

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả can thiệp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Y Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2022

170
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Một số khái niệm liên quan đến nam quan hệ tình dục đồng giới và bệnh lây truyền qua đường tình dục

2.1.1. Khái niệm nam quan hệ tình dục đồng giới

2.1.2. Bệnh lây truyền qua đường tình dục

2.1.3. HIV/AIDS

2.1.4. Bệnh Giang mai

2.1.5. Bệnh Chlamydia (nhiễm Chlamydia trachomatis)

2.1.6. Lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục trên nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới

2.2. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục, kiến thức, thực hành ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới

2.2.1. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình dục đồng giới

2.2.1.1. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình dục đồng giới trên thế giới
2.2.1.2. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Việt Nam

2.3. Thực trạng can thiệp và mô hình can thiệp phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục

2.3.1. Thực trạng hoạt động can thiệp phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nhóm MSM Bến Tre

2.3.2. Mô hình can thiệp phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục

2.4. Một số công trình nghiên cứu về bệnh lây truyền qua đường tình dục, kiến thức, thực hành ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới

2.4.1. Trên thế giới

2.4.2. Tại Việt Nam

2.5. Thông tin về địa bàn nghiên cứu tỉnh Bến Tre

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Tiêu chuẩn chọn

3.1.3. Tiêu chuẩn loại trừ

3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Thiết kế nghiên cứu

3.3.2. Phương pháp chọn mẫu

3.3.3. Nội dung nghiên cứu

3.3.4. Phương pháp và nội dung can thiệp

3.3.5. Phương pháp thu thập số liệu

3.3.6. Phương pháp hạn chế sai số

3.3.7. Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu

3.4. Đạo đức trong nghiên cứu

3.5. Hạn chế của đề tài

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Tỷ lệ nhiễm một số bệnh lây qua đường tình dục, tỷ lệ kiến thức, thực hành đúng về phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục và một số yếu tố liên quan năm 2014

4.2.1. Tỷ lệ nhiễm một số bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình dục đồng giới năm 2014

4.2.2. Kiến thức về phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình dục đồng giới năm 2014

4.2.3. Thực hành về phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình dục đồng giới năm 2014

4.2.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành và nhiễm ít nhất một bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình dục đồng giới

4.3. Đánh giá hiệu quả can thiệp phòng chống một số bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình dục đồng giới tại tỉnh Bến Tre năm 2014-2018

4.3.1. Đánh giá hiệu quả can thiệp phòng chống một số BLTQĐTD ở ĐTNC năm 2014-2018

4.3.2. Đánh giá hiệu quả can thiệp về kiến thức phòng chống các BLTQĐTD ở ĐTNC năm 2014 - 2018

4.3.3. Đánh giá hiệu quả can thiệp về thực hành đúng phòng chống các BLTQĐTD năm 2014 - 2018

4.3.4. Một số kết quả can thiệp về truyền thông và dự phòng

4.4. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu. Thực trạng nhiễm một số bệnh lây qua đường tình dục, tỷ lệ kiến thức, thực hành đúng và một số yếu tố liên quan ở MSM tại tỉnh Bến Tre năm 2014

4.4.1. Tỷ lệ nhiễm một số bệnh lây truyền qua đường tình dục ở ĐTNC năm 2014

4.4.2. Kiến thức về phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới năm 2014

4.4.3. Thực hành về phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới năm 2014

4.4.4. Yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành và nhiễm ít nhất một bệnh lây truyền qua đường tình dục ở MSM năm 2014

4.5. Hiệu quả can thiệp phòng chống một số bệnh lây truyền qua đường tình dục ở ĐTNC năm 2014–2018

4.5.1. Đánh giá hiệu quả can thiệp phòng chống một số BLTQĐTD ở ĐTNC năm 2014 – 2018

4.5.2. Đánh giá hiệu quả can thiệp về kiến thức phòng chống các BLTQĐTD năm 2014 – 2018

4.5.3. Đánh giá hiệu quả can thiệp về thực hành phòng chống các BLTQĐTD ở ĐTNC năm 2014 – 2018

4.5.4. Một số kết quả can thiệp về truyền thông và dự phòng

4.6. Điểm mới của nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

PHỤ LỤC 4

PHỤ LỤC 5

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Can Thiệp Phòng Chống Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục

Can thiệp phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) là một trong những biện pháp quan trọng nhằm giảm thiểu tỷ lệ nhiễm bệnh trong cộng đồng, đặc biệt là ở nhóm nam giới quan hệ đồng tính (MSM). Tại Bến Tre, tình hình lây nhiễm HIV và các BLTQĐTD đang gia tăng, đòi hỏi sự chú ý và can thiệp kịp thời. Các can thiệp này không chỉ bao gồm việc cung cấp thông tin giáo dục mà còn cả các dịch vụ y tế thiết yếu như xét nghiệm và điều trị. Việc đánh giá hiệu quả của các can thiệp này là cần thiết để cải thiện sức khỏe cộng đồng.

1.1. Khái Niệm Về Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) là các nhiễm trùng do vi khuẩn, vi rút, hoặc ký sinh trùng gây ra và lây truyền qua quan hệ tình dục. Các bệnh này có thể gây ra nhiều biến chứng nghiêm trọng nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Đặc biệt, nhóm MSM có nguy cơ cao hơn trong việc nhiễm các bệnh này do đặc điểm sinh lý và hành vi tình dục.

1.2. Tình Hình Bệnh Lây Truyền Qua Đường Tình Dục Tại Bến Tre

Tại Bến Tre, tỷ lệ nhiễm HIV và các BLTQĐTD trong nhóm MSM đang gia tăng. Theo báo cáo, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm này đã tăng từ 1,18% năm 2012 lên 4,29% năm 2014. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các can thiệp hiệu quả nhằm giảm thiểu tình trạng này.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Can Thiệp Phòng Chống Bệnh

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong việc can thiệp phòng chống BLTQĐTD, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu hụt thông tin và kiến thức về các biện pháp phòng ngừa trong cộng đồng MSM. Nhiều người vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng bao cao su và các biện pháp an toàn khác. Hơn nữa, sự kỳ thị và phân biệt đối xử cũng là rào cản lớn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế.

2.1. Thiếu Kiến Thức Về Phòng Chống Bệnh

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng kiến thức về các biện pháp phòng ngừa BLTQĐTD trong nhóm MSM còn hạn chế. Việc thiếu thông tin này dẫn đến việc không sử dụng bao cao su và các biện pháp an toàn khác, làm tăng nguy cơ lây nhiễm.

2.2. Kỳ Thị Và Phân Biệt Đối Xử

Sự kỳ thị đối với nhóm MSM vẫn còn phổ biến, khiến họ ngại ngùng khi tiếp cận các dịch vụ y tế. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cá nhân mà còn làm gia tăng nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng.

III. Phương Pháp Can Thiệp Hiệu Quả Đối Với Nam Giới Quan Hệ Đồng Tính

Để giảm thiểu tỷ lệ nhiễm BLTQĐTD trong nhóm MSM, cần áp dụng các phương pháp can thiệp hiệu quả. Các phương pháp này bao gồm giáo dục sức khỏe, cung cấp dịch vụ xét nghiệm và điều trị, cũng như tăng cường sự tham gia của cộng đồng. Việc kết hợp các phương pháp này sẽ giúp nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của nhóm MSM.

3.1. Giáo Dục Sức Khỏe Và Tăng Cường Nhận Thức

Giáo dục sức khỏe là một trong những phương pháp quan trọng nhất trong can thiệp phòng chống BLTQĐTD. Cung cấp thông tin chính xác về các bệnh lây truyền qua đường tình dục và cách phòng ngừa sẽ giúp nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của nhóm MSM.

3.2. Cung Cấp Dịch Vụ Xét Nghiệm Và Điều Trị

Cung cấp dịch vụ xét nghiệm và điều trị kịp thời cho nhóm MSM là rất cần thiết. Điều này không chỉ giúp phát hiện sớm các trường hợp nhiễm bệnh mà còn tạo điều kiện cho việc điều trị hiệu quả, từ đó giảm thiểu tỷ lệ lây nhiễm trong cộng đồng.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu Về Hiệu Quả Can Thiệp

Nghiên cứu về hiệu quả của các can thiệp phòng chống BLTQĐTD cho thấy những cải thiện đáng kể trong kiến thức và thực hành của nhóm MSM. Tỷ lệ sử dụng bao cao su và các biện pháp an toàn khác đã tăng lên sau khi thực hiện các can thiệp. Điều này cho thấy rằng các chương trình can thiệp có thể mang lại hiệu quả tích cực trong việc giảm thiểu tỷ lệ nhiễm bệnh.

4.1. Tăng Cường Kiến Thức Về Bệnh

Sau khi thực hiện các can thiệp, kiến thức về các bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm MSM đã được cải thiện rõ rệt. Nhiều người đã nhận thức được tầm quan trọng của việc sử dụng bao cao su và các biện pháp an toàn khác.

4.2. Cải Thiện Thực Hành An Toàn Tình Dục

Tỷ lệ sử dụng bao cao su trong quan hệ tình dục đã tăng lên đáng kể sau khi thực hiện các can thiệp. Điều này cho thấy rằng nhóm MSM đã có những thay đổi tích cực trong hành vi tình dục của mình.

V. Kết Luận Và Hướng Tương Lai Trong Can Thiệp

Can thiệp phòng chống bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại Bến Tre đã cho thấy những kết quả khả quan. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục nỗ lực để nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của nhóm MSM. Các chương trình can thiệp cần được duy trì và mở rộng để đảm bảo sức khỏe cộng đồng được cải thiện bền vững.

5.1. Đánh Giá Hiệu Quả Can Thiệp

Đánh giá hiệu quả của các can thiệp là rất quan trọng để xác định những gì đã hoạt động và những gì cần cải thiện. Các nghiên cứu tiếp theo cần được thực hiện để theo dõi tình hình và điều chỉnh các chương trình can thiệp cho phù hợp.

5.2. Hướng Tương Lai Trong Can Thiệp

Hướng tới tương lai, cần có các chiến lược can thiệp toàn diện hơn, bao gồm cả việc tăng cường sự tham gia của cộng đồng và cải thiện tiếp cận dịch vụ y tế cho nhóm MSM. Điều này sẽ giúp giảm thiểu tỷ lệ nhiễm bệnh và nâng cao sức khỏe cộng đồng.

25/07/2025
Nghiên cứu tình hình và đánh giá kết quả can thiệp phòng chống các bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam giới quan hệ đồng tính tại tỉnh bến tre full text

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm liên quan đến nam quan hệ tình dục đồng giới và bệnh lây truyền qua đường tình dục 1. Khái niệm nam quan hệ tình dục đồng giới Thuật ngữ “Nam có quan hệ tình dục đồng giới” hoặc “Nam giới quan hệ đồng tính” hoặc “Nam có quan hệ tình dục với nam” (men who have sex with men-viết tắt MSM) là một thuật ngữ chỉ hành vi quan hệ tình dục của những người nam giới với những người nam giới khác với bất kì hoàn cảnh nào, không phụ thuộc vào khuynh hướng tình dục, nhận dạng tình dục và nhận dạng giới [92]. Bệnh lây truyền qua đường tình dục Bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD): là các nhiễm trùng do tác nhân là vi khuẩn, vi rút, đơn bào, nấm, kí sinh gây nên và lây truyền từ người này sang người khác qua quan hệ tình dục (QHTD).

Hầu hết các vi khuẩn, đơn bào, nấm và kí sinh vật có thể bị diệt bởi các thuốc điều trị đặc hiệu. Trái lại, các vi rút hiện nay chưa có thuốc nào diệt được, do vậy chúng tồn tại trong cơ thể một thời gian dài hoặc suốt cuộc đời. Một số tác nhân gây BLTQĐTD: - Vi khuẩn: xoắn khuẩn giang mai, lậu cầu, chlamydia trachomatis, trực khuẩn hạ cam, ureaplasma urealyticum, calymmatobacterium granulomatis, gardnerella vaginalis, liên cầu nhóm B, vi khuẩn kỵ khí âm đạo. - Vi rút: herpes simplex, u mềm lây, HIV, vi rút viêm gan B, viêm gan C.

- Nấm và các tác nhân khác: nấm men Candida, trùng roi âm đạo, cái ghẻ, rận mu. HIV/AIDS HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus” là vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh. AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Acquired Immune Deficiency Syndrome” là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong. Đường lây truyền HIV: lây truyền qua đường tình dục, qua đường máu và lây truyền từ mẹ sang con.

Ngoài các phương thức lây truyền như trên, hiện nay chưa xác định được các phương thức lây khác như đường hô hấp, qua muỗi hoặc côn trùng đốt, hôn, dùng chung bát đũa. Hiện nay vắc xin phòng HIV vẫn còn đang thử nghiệm và cũng chưa có cách điều trị AIDS, việc phòng chống căn bệnh thế kỷ này chủ yếu vẫn thông qua hành vi tình dục an toàn. Do đó để việc phòng chống có hiệu quả thì mọi người phải có kiến thức, thái độ và hành vi đúng về HIV/AIDS, đặc biệt là những đối tượng có nguy cơ cao, những nhóm dễ cảm nhiễm với HIV. Chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV: chăm sóc toàn diện cho người nhiễm HIV trước khi điều trị thuốc kháng vi rút (ARV), điều trị nhiễm trùng cơ hội, điều trị thuốc ARV cho những người MSM nhiễm HIV [5].

Bệnh Giang mai Bệnh giang mai là một BLTQĐTD, do xoắn khuẩn nhạt, tên khoa học là Treponema pallidum gây nên. Bệnh có thể gây thương tổn ở da - niêm mạc và nhiều tổ chức, cơ quan của cơ thể mà chủ yếu ở cơ, xương khớp, tim mạch và thần kinh. Bệnh lây truyền chủ yếu qua QHTD và có thể lây truyền qua đường máu, lây truyền từ mẹ sang con. Bệnh có thể gây hậu quả trầm trọng như giang mai 5 thần kinh, giang mai tim mạch, giang mai bẩm sinh.

Điều trị sớm và đủ liều để khỏi bệnh, ngăn chặn lây lan, đề phòng tái phát và di chứng. Điều trị đồng thời cho cả bạn tình của bệnh nhân. Penicillin là thuốc được lựa chọn, cho đến nay chưa có trường hợp nào xoắn khuẩn giang mai kháng Penicilin [3]. Bệnh Chlamydia (nhiễm Chlamydia trachomatis) Bệnh Chlamydia là BLTQĐTD phổ biến, tiến triển của bệnh và biểu hiện lâm sàng của nhiễm Chlamydia trachomatis là do hiệu quả phối hợp của hủy hoại tổ chức tế bào do Chlamydia trachomatis nhân lên và đáp ứng viêm của tổ chức với vi khuẩn này và các chất hoại tử do tế bào bị phá hủy.

Chlamydia trachomatis có thể bị nhiễm khi QHTD qua hậu môn, âm đạo hoặc bằng miệng với người nhiễm Chlamydia trachomatis. Đối với nam, Chlamydia gây viêm niệu đạo, viêm mào tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt, viêm trực tràng, hội chứng Reiter [3]. Lây nhiễm bệnh lây truyền qua đường tình dục trên nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới Trong nhiều nghiên cứu cho thấy nguy cơ nhiễm HIV, giang mai, chlamydia trachomatis cao ở nhóm MSM [31], [37], [39], [47]. QHTD giữa nam và nam có nguy cơ lây nhiễm các BLTQĐTD cao hơn QHTD giữa nam và nữ.

MSM sinh hoạt tình dục qua đường hậu môn, làm tăng nguy cơ bị lây nhiễm BLTQĐTD từ người bệnh sang người lành vì hậu môn không có dịch nhờn bôi trơn. Hơn nữa, niêm mạc trực tràng có nhiều mao mạch, dễ bị tổn thương, xây xước khi sinh hoạt tình dục. Qua những vết xây xước này, các tác nhân gây các BLTQĐTD sẽ xâm nhập từ người nhiễm sang người lành và từ đó vào máu. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục, kiến thức, thực hành ở nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới 1.

Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình dục đồng giới 1. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục ở nam quan hệ tình đồng giới trên thế giới Theo báo cáo của UNAIDS về tình hình dịch HIV/AIDS trên toàn cầu, trong năm 2017 có 36,9 triệu người sống với HIV tăng 4,5 triệu người so với năm 2010 (năm 2010 là 32,4 triệu người), kết quả cho thấy tiếp tục có nhiễm mới và những người sống lâu hơn với HIV [89], [90], tốc độ thay đổi theo nhóm tuổi, giới tính và khu vực [87], [88]. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM đã tăng ít nhất ba lần trong thập kỷ qua - từ 5,3% năm 2007 lên 17,9% năm 2019, tỷ lệ mắc bệnh lậu (18,7%), chlamydia (27,9%) và giang mai (9,6%) trong nhóm MSM trên toàn quốc. Tỷ lệ hiện nhiễm HIV ở nhóm thanh niên MSM ở các trung tâm thành thị tăng gấp 4 lần trong giai đoạn 2011 - 2015 (từ 3,8% lên 15,6%), năm 2019 tỷ lệ hiện nhiễm cao 17,9% [72], [78], [93].

Năm 2018, tỷ lệ mắc các BLTQĐTD ở MSM bao gồm giang mai tiên phát, thứ phát và bệnh lậu kháng khuẩn cao hơn tỷ lệ được báo cáo ở phụ nữ và nam giới chỉ quan hệ tình dục với phụ nữ [55], [61]. So với năm 2014, MSM chiếm 83% các trường hợp giang mai tiên phát và thứ phát. MSM thường nhiễm BLTQĐTD bao gồm nhiễm chlamydia và lậu. Tỷ lệ mắc BLTQĐTD tương đối cao trong nhóm MSM có thể liên quan đến nhiều yếu tố, bao gồm hành vi cá nhân và hành vi tình dục [64], [77].

Trong số những người đàn ông da đen được chẩn đoán nhiễm HIV vào năm 2016, phần lớn các trường hợp chẩn đoán (80%) là do quan hệ tình dục nam - nam (10. Trong số tất cả MSM trưởng thành được chẩn 7 đoán nhiễm HIV vào năm 2016 (26.569), có sự chênh lệch về chủng tộc và dân tộc; 38% là người Mỹ gốc Phi hoặc da đen (10,223), 28% là gốc Tây Ban Nha/Latino (7,425), 28% là người da trắng (7,390), và 6% còn lại là người Mỹ bản địa/Alaska bản địa, người Châu Á, Đảo Thái Bình Dương hoặc nhiều chủng tộc (1,532) [57]. Phần lớn các ca nhiễm HIV trong nhóm MSM ở Hoa Kỳ xảy ra ở những người trong độ tuổi lao động. Tỷ lệ nhiễm ở Indonesia (2021) về HIV chiếm 30% ở nam giới vị thành niên và thanh niên có quan hệ tình dục đồng giới; 1/5 có các triệu chứng nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục trong năm qua.

13% biết trước tình trạng nhiễm HIV của mình và 17% biết được tình trạng nhiễm HIV của mình trong cuộc khảo sát. Tỷ lệ hiện mắc ở nhóm MSM từ 25 tuổi trở lên cao hơn 2,2 lần so với nhóm MSM trẻ tuổi [70]. Rein Willekens (2021) thực hiện một nghiên cứu cắt ngang tiền cứu, bao gồm MSM nhiễm HIV không có triệu chứng tham gia các cuộc khám định kỳ từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 12 năm 2017. Trong số 301 bệnh nhân được nghiên cứu bao gồm 60 bệnh nhân (19,9%) có ít nhất một STIs, phổ biến nhất là giang mai (33 trong số 69 STIs), tiếp theo là chlamydia (19 trong 69), lậu (10 trong 69), vi rút viêm gan C (4 trong 69) và lymphogranuloma venereum (3 trong 69).

Sử dụng ma túy bất hợp pháp trong khi quan hệ tình dục là biến số duy nhất có liên quan đáng kể đến sự hiện diện của STIs trên phân tích đa biến (OR = 2,13; KTC 95%: 1,17 - 3,89) [79]. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Việt Nam Trường hợp HIV đầu tiên được phát hiện ở nước ta vào tháng 12/1990 [9]. Trong 5 năm từ 2010 - 2015, số trường hợp HIV dương tính phát hiện năm 2010 từ 17.000 năm 2019, tử vong giảm từ 3.130 ca năm 8 2015, số bệnh nhân AIDS từ 8.900 ca năm 2010 xuống còn khoảng 6. Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM đã tăng từ 5,1% năm 2015 lên 7,36% năm 2017 [10].

Một nghiên cứu được thực hiện tại Thừa Thiên Huế (2014), cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV của MSM là 1,5% [29]. Tỷ lệ lưu hành HIV ở nhóm MSM qua giám sát trọng điểm HIV, lồng ghép hành vi tại 9 tỉnh phía Nam năm 2010-2014 dao động ở mức 2 - 10% [31]. Tại Hà Nội, tỷ lệ dương tính với một trong 4 bệnh STIs gồm HIV, giang mai, lậu và chlamydia là 29%, trong đó, mắc 2 bệnh, 3 bệnh, 4 bệnh lần lượt là 77%, 17% và 6% [48]. Tại Hải Phòng (2018), tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm MSM là 2,0% [15].

Một nghiên cứu tại Hà Nội cho kết quả tỷ lệ nhiễm HIV/STIs ở nam bán dâm đồng giới 16-29 tuổi rất cao (nhiễm HIV: 6,1%; nhiễm ít nhất 1 bệnh STIs: 48,7%; mắc giang mai: 21,0%, lậu: 14,7%, chlamydia: 16,7%) [18]. Thực trạng bệnh lây truyền qua đường tình dục trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới tại Bến Tre Theo báo cáo của Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Bến Tre: năm 2014 BLTQĐTD trong toàn tỉnh là 3.432 trường hợp tăng 372 trường hợp so với năm 2013. Trong đó, giang mai 9 trường hợp, lậu 15 trường hợp, sùi mào gà sinh dục 97 trường hợp, HIV 212 trường hợp, herpes sinh dục 3 trường hợp và các bệnh hoa liễu khác. Trong năm 2020, toàn tỉnh phát hiện thêm 296 trường hợp nhiễm HIV.

Lũy tích từ năm 1993 đến 30/11/2020 số người nhiễm HIV được phát hiện trong toàn tỉnh là 3.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ