Đặt vấn đề Trong lịch sử của loài người, chưa bao giờ vấn đề môi trường cần được quan tâm như hiện nay. Bảo vệ môi trường là một nhiệm vụ quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương, quốc gia và toàn cầu, là bộ phận cấu thành không thể tách rời của chiến lược phát triển kinh tế xã hội (Bộ tài nguyên Môi trường)[4]. Do vậy phát triển kinh tế phải kết hợp hài hoà với phát triển các mặt xã hội và bảo vệ môi trường sống, đó cũng chính là phát triển một cách bền vững và lâu dài. Ô nhiễm môi trường không còn xa lạ với chúng ta và nó đã trở thành một vấn đề của toàn cầu (Đặng Kim Chi, 2000)[5].
Nếu chúng ta không có các biện pháp bảo vệ môi trường kịp thời để ngăn chặn và phòng ngừa mức độ ô nhiễm môi trường thì sự suy thoái môi trường là điều không thể tránh khỏi (Trần Yêm, Trịnh Thị Thanh, 2003)[15]. Hiện nay ở Việt Nam tình trạng ô nhiễm không khí ở các thành phố lớn, các khu công nghiệp đang ngày càng trầm trọng, gây tác động xấu đến cảnh quan môi trường và sức khỏe con người (Bộ tài nguyên Môi trường)[4]. Do vậy, bảo vệ môi trường là một trong những ưu tiên hàng đầu được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với nền kinh tế đang trên đà phát triển của tỉnh Tuyên Quang theo xu hướng: giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ thì tốc độ phát triển đô thị cũng như công nghiệp hóa trên địa bàn tỉnh đang diễn ra rất nhanh chóng (Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Tuyên Quang)[14].
Hoạt động của các nhà máy, xí nghiệp, các công trường khai thác và các phương tiện giao thông qua lại trên đường đã gây ảnh hưởng không nhỏ tới n 2 chất lượng môi trường không khí tại Tuyên Quang. Do đó việc xem xét đánh giá chất lượng môi trường không khí tỉnh Tuyên Quang nói chung và thành phố Tuyên Quang nói riêng là một vấn đề cần được quan tâm hiện nay. Xuất phát từ những vấn đề trên và nhận thấy được tầm quan trọng của công tác đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường, được sự nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi trường - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và cơ sở thực tập là Trung tâm Quan Trắc và Bảo Vệ Môi Trường - Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Tuyên Quang, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của T.S Phạm Văn Tuấn em thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường không khí từ đó xây dựng bản đồ chất lượng môi trường không khí khu vực thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang” nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại thành phố Tuyên Quang, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm bảo vệ và cải thiện môi trường hướng tới sự phát triển bền vững. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát Đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường không khí từ đó xây dựng bản đồ chất lượng môi trường không khí khu vực thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Mục đích nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng môi trường không khí trên địa bàn thành phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang. - Xây dựng cơ sở dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin để đánh giá thành phần môi trường không khí và xây dựng bản đồ ô nhiễm môi trường không khí trên địa bàn thành phố Tuyên Quang tỉnh Tuyên Quang. - Đề xuất biện pháp nhằm quản lý môi trường phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Vận dụng và phát huy những kiến thức đã học tập vào nghiên cứu.
+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này. + Nâng cao khả năng tự học tập, nghiên cứu và tìm tài liệu. + Bổ sung tư liệu cho học tập. - Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất: ứng dụng công nghệ thông tin vào ngành môi trường đã góp phần lớn trong việc quản lý dữ liệu về môi trường, kiểm soát tình hình ô nhiễm, đánh giá hiện trạng môi trường một cách đầy đủ.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Một số khái niệm liên quan - Quản lý môi trường: Là tập hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. Các nguyên tắc quản lý môi trường, các công cụ thực hiện giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử lý môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển ngành khoa học môi trường[10].
- Môi trường: Bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật (Điều 3, Luật Bảo vệ Môi trường 2005)[7]. - Thành phần môi trường: Là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác[7]. - Hoạt động bảo vệ môi trường: Là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học[10]. - Quy chuẩn: Quy chuẩn sử dụng để tính toán AQI là các mức quy định trong Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh hiện hành (QCVN 05:2009/BTNMT)[7].
- Tiêu chuẩn môi trường: Là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất n 5 thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lý và bảo vệ môi trường[7]. - Ô nhiễm môi trường: Là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật. Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật (Điều 3. Luật Bảo vệ Môi trường 2005)[7].
- Sự cố môi trường: Là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng. - Phát triển bền vững: Là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường[7]. - Chất gây ô nhiễm: Là chất hoặc yếu tố vật lý khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị ô nhiễm. - Chất thải: Là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác.
- Sức chịu tải của môi trường: Là giới hạn cho phép mà môi trường có thể tiếp nhận và hấp thụ các chất gây ô nhiễm. - Quan trắc môi trường: Là quá trình theo dõi có hệ thống về môi trường, các yếu tố tác động lên môi trường nhằm cung cấp thông tin phục vụ đánh giá hiện trạng, diễn biến chất lượng môi trường và các tác động xấu đối với môi trường. - Thông tin về môi trường: Bao gồm số liệu, dữ liệu về các thành phần môi trường; về trữ lượng, giá trị sinh thái, giá trị kinh tế của các nguồn tài nguyên thiên n 6 nhiên; về các tác động đối với môi trường; về chất thải; về mức độ môi trường bị ô nhiễm, suy thoái và thông tin về các vấn đề môi trường khác. - Trạm quan trắc không khí tự động cố định liên tục là trạm quan trắc cố định có khả năng đo tự động liên tục các thông số về chất lượng không khí.
Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam số 52/2005/QH11 được Quốc Hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực từ 01/7/2006. - Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính Phủ về việc “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ Môi trường”. - Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/4/2007 của Chính phủ về việc quản lý chất thải rắn. - Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 của chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
- Thông tư số 47/2011/TT-BTNMT ngày 28 tháng 12 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc quy định Quy chuẩn quốc gia về môi trường. - QCVN 05:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh. - QCVN 06:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về một số chất độc hại trong không khí xung quanh. - QCVN 26-2010/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn.
- Quyết định 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc bắt buộc áp dụng TCVN về môi trường. - Quyết định số 878/2011/QĐ-TCMT ngày 01/07/2011 về ban hành sổ tay hướng dẫn tính toán chỉ số chất lượng không khí (AQI). n 7 - Quyết định số 04/2008/QĐ-BTNMT ngày 18/07/2008 và quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31/12/2008 về ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường. Phương pháp chỉ tiêu tổng hợp đánh giá chất lượng môi trường thành phần 2.
Khái niệm chỉ số AQI - Chỉ số chất lượng không khí (viết tắt là AQI) là chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc các chất ô nhiễm trong không khí, nhằm cho biết tình trạng chất lượng không khí và mức độ ảnh hưởng đến sức khỏe con người, được biểu diễn qua một thang điểm[17]. Chỉ số chất lượng không khí được áp dụng tính cho 02 loại: + Chỉ số chất lượng không khí theo ngày. + Chỉ số chất lượng không khí theo giờ. - AQI thông số là giá trị tính toán AQI cho từng thông số quan trắc.
- AQI theo ngày (AQId) là giá trị tính toán cho AQI áp dụng cho 1 ngày.