Đặt vấn đề Xã hội loài người đang tiến gần hơn đến sự phát triển bền vững. Đó là việc vừa phát triển kinh tế hiện đại song song với bảo vệ môi trường.Tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn đang hoành hành ở khắp mọi nơi trên hành tinh xanh. Hiện nay có rất nhiều các công ty,nhà máy,xí nghiệp đi vào hoạt động với nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng dù ở lĩnh vực nào cũng đều gây ô nhiễm tới môi trường. trong đó thép cũng là vật liệu chủ yếu đối với nhiều ngành công nghiệp,có vai trò quyết định đối với nền công nghiệp hóa,hiện đại hóa đát nước.
Những năm qua,cùng với sự tăng trưởng kinh tế và đầu tư,nhu cầu thép của Việt Nam đã và đang tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên sản lượng phôi thép hàng năm chỉ đáp ứng khoảng 40% nhu cầu phôi của cả nước (năm 2007). Những năm vừa qua ở Việt Nam,công nghệ luyện phôi thép chủ yếu theo phương pháp truyền thống là Lò cao-sử dụng quặng,than mỡ trong nước và than cốc nhập khẩu với giá thành khá cao kèm theo hợp đồng đối lưu quặng sắt –than cốc dài hạn,cho nên đã bộc lộ những bất cập nhất định và đặc biệt là công nghệ lò cao gây ô nhiễm môi trường rất lớn. Ngoài ra,phương pháp thứ hai là công nghệ lò điện với nguyên liệu đầu vào thép phế liệu tận thu trong nước và nhập khẩu,nguồn sắt, thép phế liệu ở Việt Nam không nhiều nên giá thành phôi, thép sẽ bị chi phối bởi thị trường nước ngoài.
Vì thế mà công ty đã sáng chế ra hai phương pháp sản xuất mới:“phương pháp sản xuất sắt xốp”(phương pháp hoàn nguyên trực tiếp quặng sắt)và “phương pháp sản xuất phôi thép từ sắt xốp”.Công nghệ hoàn nguyên trực tiếp cho phép tạo ra phôi thép có hàm lượng Cacbon rất thấp,nhờ vậy có thể sản xuất thép hợp kim và thép hợp kim cao,mặt khác công nghệ này bỏ công đoạn thiêu kết quặng sắt và luyện than cốc nên giảm thiểu các chất ô nhiễm môi trường và chi phí sản xuất.Thép hợp kim ngày càng có nhu cầu sử dụng nhiều,nhất là trong các ngành sản xuất xi măng,xây dựng thủy điện,công nghiệp đóng tàu và công nghiệp quốc phòng. Bên cạnh thành tựu đó khi nhà máy hoạt động cũng đã gây ra nhiều ảnh hưởng tới môi trường và sinh vật. Vì vậy em được sự đồng ý 2 của ban giám hiệu nhà trường,Ban chủ nhiệm khoa Môi trường - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đồng thời dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc Nông nên em tiến hành nghiên cứu đề tài:“đánh giá hiện trạng và giải pháp bảo vệ môi trường tại khu vực nhà máy sản xuất phôi thép đúc hợp kim cao trên địa bàn xã Hoàng Tung.
Tỉnh Cao Bằng”. Để đánh giá thực trạng môi trường tại nhà máy sản xuất và đề ra được những giải pháp góp phần bảo vệ môi trường tại khu vực. Mục tiêu - Đánh giá môi trường khu vực nhà máy nhằm để phát hiện được nguồn gây ô nhiễm để có biện pháp bảo vệ và kiểm soát ô nhiễm. -Tìm hiểu công tác cam kết bảo vệ môi trường của nhà máy để phát huy và thực hiện tốt trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Đề xuất các biện pháp quản lý và xử lý vấn đề ô nhiễm môi trường nhằm giảm thiểu các tác động gây ra cho môi trường và con người, sử dụng nguồn tài nguyên. - Đẩy mạnh công tác quản lý môi trường trong hoạt động sản xuất phôi thép tại nhà máy. Yêu cầu - Nghiên cứu thực trạng môi trường và công tác quản lý môi trường trong khu vực nhà máy những năm gần đây. - Đánh giá thực trạng môi trường và công tác bảo vệ môi trường của nhà máy xem đã đạt được những gì và chưa đạt những gì.
- Đưa ra các giải pháp và kiến nghị đối với hoạt động bảo vệ môi trường của nhà máy nhằm quản lý tốt hơn cho những năm tới. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học từ nhà trường vào thực tế - Giúp bản thân có cơ hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, bổ xung tư liệu cho học tập của mình. Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá được thực trạng công tác quản lý môi trường của khu vực nhà máy sản xuất phôi thép.
- Nâng cao nhận thức,tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho mọi cán bộ công nhân viên của nhà máy. - Đề xuất những giải pháp hiệu quả cho công tác bảo vệ môi trường. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Các khái niệm về môi trường * Khái niệm về môi trường Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, cóảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”. * Khái niệm: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: + Môi trường tự nhiên: Bao gồm các yếu tố tự nhiên như các yếu tố vật lý, hoá học và sinh học, tồn tại khách quan ngoài ý muốn của con người. + Môi trường xã hội: Là tổng thể các quan hệ giữa người với người tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và cộng đồng loài người. + Môi trường nhân tạo: Là tất cả các yếu tố tự nhiên, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người.
Môi trường theo nghĩa rộng là tổng các nhân tố như không khí, nước, đất, ánh sáng, âm thanh, cảnh quan, xã hội…Có ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống con người và các tài nguyên thiên nhiên cần thiết cho sinh sống và sản xuất của con người. Môi trường theo nghĩa hẹp là các nhân tố như: Không khí, đất, nước, ánh sáng…liên quan tới chất lượng cuộc sống con người , không xét tới tài nguyên (Trương Thành Nam, 2006)[10] 2. Những vấn đề trong quản lý môi trường. Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các ky năng điều phối thông tin.
5 Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới sự phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2006)[8]. Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường là một nội dung cụ thể của quản lý Nhà nước. Đó là việc sử dụng các công cụ quản lư trên cơ sở khoa học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm bảo đảm giữ cân bằng giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Tổng hợp biện pháp luật pháp,chính sách,kỹ thuật,xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội của quốc gia (Khoa học môi trường đại cương, Lê Văn Khoa, 2001)[6] * Mục tiêu trong công tác quản lý môi trường hiện nay: - Khắc phục và phòng chống suy thoái,ô nhiễm môi trường phát sinh trong các hoạt động sống của con người.
- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường,ban hành các chính sách về phát triển kinh tế xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường, nghiêm chỉnh thi hành luật BVMT. - Tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường từ trung ương đến điạ phương,công tác nghiên cứu đào tạo cán bộ về môi trường. - Phát triển đất nước theo các nguyên tắc phát triển bền vững được hội nghị Rio – 92 thông qua. - Xây dựng các công cụ hữu hiệu về quản lý môi trường quốc gia, các vùng lãnh thổ riêng biệt.
* Các nguyên tắc chủ yếu trong công tác quản lý môi trường: - Hướng tới phát triển bền vững. - Kết hợp các mục tiêu quốc tế, quốc gia, vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường. - Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được thực hiện nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp. - Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc xử lý phục hồi môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm.
6 - Người gây ô nhiễm phải trả tiền. Các cơ sở để xây dựng nên hệ thống quản lý môi trường * Cơ sở triết học của quản lý môi trường - Nguyên lý về tính thống nhất vật chất của thế giới gắn tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống rộng lớn: “Tự nhiên - Con người - Xã hội”. Sự thống nhất của hệ thống trên được thể hiện trong các chu trình sinh địa hóa của 5 thành phần cơ bản: Sinh vật sản xuất; sinh vật tiêu thụ; sinh vật phân hủy; con người và các chất vô cơ; hữu cơ cần thiết cho sự sống của sinh vật và con người. - Tính thống nhất của hệ thống “Tự nhiên - Con người - Xã hội” gắn liền với quá trình tiến hóa của sinh quyển và lịch sử phát triển của xã hội loài người.
Yếu tố con người là mắt xích quan trọng trong mối quan hệ Tự nhiên - Con người - Xã hội, yếu tố Xã hội quyết định sự bảo tồn của sự sống trên trái đất, Nguồn tài nguyên có giá trị khác nhau đối với con người và xã hội loài người trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Xã hội ngày càng phát triển thì việc gắn bó với tự nhiên là điều tất yếu. Cơ sở thống nhất của hệ thống Tự nhiên - Con người - Xã hội được quy định bởi cấu trúc chặt chẽ liên hoàn của sinh quyển và bởi cơ chế hoạt động theo nguyên tắc tự tổ chức, tự bảo vệ, tự điều chỉnh, tự làm sạch của chu trình sinh địa hóa. Vì vậy cần phải có quan điểm hệ thống và toàn diện trong việc giải quyết các vấn đề môi trường và quản lý môi trường hiện nay.
- Quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội loài người.