MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất nước ta hiện nay đang trong quá trình đô thị hóa phát triển không ngừng cả về tốc độ lẫn qui mô, số lượng lẫn chất lượng. Bên cạnh những mặt tích cực, những tiến bộ vượt bậc thì vẫn còn những mặt tiêu cực, những hạn chế mà không một nước đang phát triển nào không phải đối mặt, đó là tình trạng môi trường ngày càng bị ô nhiễm cụ thể đó là ô nhiễm về đất, nước, không khí và tình trạng tài nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt, và hàng loạt các vấn đề về môi trường khác cần được quan tâm sâu sắc và kịp thời giải quyết một cách nghiêm túc, triệt để. Cùng với sự phát triển vượt bậc của đất nước, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao nên đời sống nhân dân từng bước được cải thiện, do vậy nhu cầu tiêu dùng, trong sinh hoạt cũng tăng lên một cách đáng kể, kết quả dẫn đến là khối lượng rác thải sinh hoạt tăng lên liên tục tạo áp lực rất lớn cho công ty thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
Hiện nay, việc thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt chưa đáp ứng yêu cầu, đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất, vệ sinh đô thị và ảnh hưởng xấu đến cảnh quan đô thị cũng như sức khỏe cộng đồng. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong những năm tới là gắn liền với mục tiêu bảo vệ môi trường. Địa phương đã có nhiều quan tâm đầu tư cho hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường, trong đó có quản lý rác thải sinh hoạt. Tuy nhiên, tác động của rác sinh hoạt đến môi trường và sức khỏe con người vẫn có chiều hướng gia tăng, do ý thức của người dân, công tác quản lý rác sinh hoạt.
Xuất phát từ những vấn đề thực tế trên, được sự nhất trí của ban chủ nhiệm Khoa Tài Nguyên- Môi trường, dưới sự hướng dẫn của cô giáo: Th.S Dương Thị Minh Hòa, tôi thực hiện đề tài: “Điều tra, đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại xã An Bồi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình” nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt tại địa phương. Mục đích và yêu cầu của đề tài 1. Mục đích Đánh giá hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt nhằm đề xuất biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại xã An Bồi. Yêu cầu - Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác.
- Các mẫu nghiên cứu phải đại diện cho khu vực lấy mẫu trên địa bàn nghiên cứu. - Đề xuất những giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế của xã An Bồi, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng kiến thức đã học làm quen với thực tế.
- Tích luỹ được kinh nghiệm cho công việc khi đi làm. - Nâng cao kiến thức thực tế. Ý nghĩa thực tiễn - Điều tra số lượng, thành phần rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã An Bồi. - Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, hiện trạng thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý rác trên địa bàn của huyện.
- Đưa ra một số biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại xã An Bồi. n 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các văn bản pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường 2005 ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006. - Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kì đẩy mạnh Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đất nước.
- Quyết định số 34/2005/QĐ-TTg ngày 22/02/2005 của Thủ tướng chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 41- NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. - Quyết định số 17/2001/QĐ-BXD ngày 07/08/2001 của Bộ trưởng Bộ Xây Dựng ban hành định mức dự toán chuyên ngành vệ sinh môi trường- công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác. - Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ Tài nguyên & Môi trường Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 05 tháng 6 năm 2011. - Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của chính phủ về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ quy định về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn (CTR). - Nghị định số 04/2009/NĐ-CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ về ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT). * Theo điều 66 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 về trách nhiệm quản lý CTR sinh hoạt quy định: - Tổ chức, cá nhân có hoạt động làm phát sinh chất thải có trách nhiệm giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng để hạn chế mức thấp nhất lượng chất thải phải tiêu huỷ, thải bỏ. n 4 - Chất thải phải được xác định nguồn thải, khối lượng, tính chất để có phương pháp và quy trình xử lý thích hợp với từng loại chất thải.
- Tố chức cá nhân kinh doanh, sản xuất, dịch vụ thực hiện tốt việc quản lý chất thải được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường. * Theo điều 69 Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt: - Lập quy hoạch, bố trí mặt bằng cho việc tập kết CTR sinh hoạt, xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung, khu chôn lấp chất thải. - Đầu tư, xây dựng, vận hành các công trình công cộng phục vụ quản lý chất thải thuộc phạm vi quản lý của mình. - Kiểm tra, giám định các công trình quản lý chất thải của tổ chức cá nhân trước khi đưa vào sử dụng.
- Ban hành và thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ cho hoạt động quản lý chất thải theo quy định của pháp luật. Các khái niệm Chất thải: là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sinh hoạt hoặc hoạt động khác” (theo Luật BVMT Việt Nam, 2006) [12]. Rác thải: là bất kì loại vật liệu nào ở dạng rắn mà con người loại bỏ mà không được tiếp tục sử dụng như ban đầu. Rác thải là những vật chất ở dạng rắn do các hoạt động của con người và động vật tạo ra.
Những “sản phẩm” này thường ít được sử dụng do đó nó là “sản phẩm” ngoài ý muốn của con người. Rác thải có thể ở dạng thành phẩm, được tạo ra trong hầu hết các giai đoạn sản xuất và trong tiêu dùng [4]. Dựa vào thành phần rác thải được chia thành 2 loại: rác thải hữu cơ và rác thải vô cơ. + Rác thải hữu cơ tự nhiên như lá cây, rau cỏ, vỏ hoa quả, thức ăn dư thừa, xác động vật… chúng là những chất dễ phân huỷ gây ô nhiễm môi trường.
Khi bị phân huỷ chúng bốc mùi khó chịu, phát sinh nhiều vi trùng gây bệnh, thu hút côn trùng, ruồi nhặng, chuột bọ tạo điều kiện cho chúng phát triển, gây ô nhiễm môi n 5 trường không khí, ô nhiễm nguồn nước và lây truyền sang người, gia súc, mất vẻ đẹp cảnh quan… + Rác thải vô cơ như chai lọ thuỷ tinh, nhựa các loại (polyetylen, polypropylene, túi nilon…), các loại vô cơ khó phân huỷ, phải sau rất nhiều năm mới phân huỷ, một số loại sau khi phân huỷ tạo thành nhiều chất độc hại làm ô nhiễm đất đai và nguồn nước. Rác thải sinh hoạt: là chất thải có liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại. Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà, lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v… Vì vậy, rác thải sinh hoạt cần được phân loại và có biện pháp tái sử dụng, tái chế, xử lí hợp lí để thu hồi năng lượng và BVMT [5]. Chất thải rắn: là các loại vật chất ở thể rắn như các vật liệu, đồ vật bị thải ra từ một quá trình cụ thể của hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt.Chất thải rắn bao gồm các chất hữu cơ như thức ăn thừa, giấy, catton, nhựa, vải, cao su, da, lá rụng sân vườn, gỗ… và các chất vô cơ như thủy tinh, lon, thiếc, nhôm, kim loại khác, đất cát… (Nguyễn Đình Hương, 2003) [7].
Nguồn gốc phát sinh, thành phần rác thải và tính chất chất thải rắn 2. Nguồn gốc phát sinh Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và các vùng nông thôn. Trong đó các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải bao gồm (Hình 2.1): + Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt). + Từ các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trình công cộng.
+ Từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động xây dựng. + Từ các làng nghề, v.v… n 6 Nhà dân, khu Cơ quan, Nơi vui chơi dân cư trường học giải trí Rác Thải Bệnh viện, cơ Chợ, bến xe sở y tế Giao thông Chính quyền Khu công xây dựng địa phương nghiệp, nhà máy Hình 2. Nguồn phát sinh chất thải Nguồn: [6] 2. Thành phần rác thải Thành phần chất thải rắn biểu hiện sự đóng góp và phân phối của các phần riêng biệt mà từ đó tạo nên dòng chất thải, thông thường được tính bằng phần trăm khối lượng.
Thông tin về thành phần chất thải rắn đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá và lựa chọn những thiết bị thích hợp để xử lý, các quá trình xử lý cũng như việc hoạch định các hệ thống, chương trình và kế hoạch quản lý chất thải rắn. Thông thường trong rác thải đô thị, rác thải từ các khu dân cư và thương mại chiếm tỷ lệ cao nhất từ 50-75%.