Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và gia tăng dân số tại Việt Nam không chỉ diễn ra ở các đô thị lớn mà ngày càng mở rộng đến các khu vực quận, huyện và thị trấn miền núi. Mức sống của người dân được nâng cao đồng nghĩa với sự gia tăng nhu cầu tiêu dùng và khối lượng chất thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày. Thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng được thành lập vào tháng 01 năm 2007, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện Hà Quảng. Địa bàn có tuyến tỉnh lộ đường Hồ Chí Minh chạy qua với chiều dài khoảng 8 km, tập trung nhiều cơ quan hành chính, trường học, cơ sở thương mại và mật độ dân cư cao. Sự phát triển này làm phát sinh lượng rác thải sinh hoạt ngày càng lớn trong khi hạ tầng kỹ thuật và năng lực quản lý môi trường tại chỗ còn nhiều hạn chế, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và cảnh quan khu vực.

Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng" được thực hiện nhằm khảo sát toàn diện công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt, cung cấp cơ sở thực tiễn để đề xuất các giải pháp quản lý, thu gom và xử lý rác thải phù hợp với điều kiện địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý rác thải tại thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng làm cơ sở để đề xuất giải pháp quản lý, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Đánh giá hiện trạng thành phần, khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa.
    • Đánh giá thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Xuân Hòa.
    • Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Rác thải sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình, chợ trung tâm, cơ quan hành chính và trường học tại thị trấn Xuân Hòa.
  • Phạm vi nội dung: Hiện trạng phát sinh khối lượng, thành phần chất thải rắn sinh hoạt; quy trình thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải và nhận thức của người dân địa phương.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng với diện tích tự nhiên 3.328,18 ha gồm 17 xóm.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên hệ thống cơ sở pháp lý về bảo vệ môi trường và quản lý chất thải của Việt Nam có hiệu lực tại thời điểm nghiên cứu:

  • Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII thông qua ngày 23/6/2014;
  • Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
  • Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu;
  • Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường;
  • Quyết định số 31/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án phát điện sử dụng chất thải rắn tại Việt Nam;
  • Thông tư số 82/2015/TT-BTC ngày 28/5/2015 của Bộ Tài chính;
  • Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại.

Về cơ sở khoa học, tác giả kế thừa và áp dụng các khái niệm nền tảng về chất thải (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004), định nghĩa và chu trình kỹ thuật của chất thải rắn gồm các khâu thu gom, lưu giữ, vận chuyển, xử lý (Nguyễn Đình Hương, 2003), bản chất và thành phần chất thải rắn sinh hoạt gắn với mô hình chu chuyển vật chất (Nguyễn Thế Chinh, 2003), cùng các đặc trưng hóa - lý của rác thải đô thị Việt Nam (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001; Lê Văn Khoa và cs, 2001).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và điều tra xã hội học được triển khai cụ thể:

  • Phương pháp kế thừa và thu thập số liệu thứ cấp: Tiếp cận tài liệu lưu trữ, số liệu thống kê dân số, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và các báo cáo hiện trạng môi trường của UBND thị trấn Xuân Hòa, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hà Quảng, Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Cao Bằng.
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn: Thiết kế và phát phiếu điều tra trực tiếp tới 100 hộ gia đình thuộc 4 nhóm đối tượng (nông dân, hộ kinh doanh buôn bán, công nhân, cán bộ công nhân viên chức nhà nước) nhằm thu thập thông tin về lượng rác thải, tập quán phân loại và nhận thức môi trường.
  • Phương pháp xác định khối lượng và thành phần rác thải:
    • Đối với rác thải hộ gia đình: Địa bàn 17 xóm được chia thành 2 vùng đặc trưng. Vùng 1 gồm 9 xóm nằm dọc tuyến đường tỉnh lộ Hồ Chí Minh, tập trung dân cư và hoạt động buôn bán (Bản Giàng 1, Nà Vạc 1, Đôn Chương, Xuân Lộc, Xuân Đại, Xuân Trường, Xuân Vinh, Nà Chang, Mai Nưa). Vùng 2 gồm 8 xóm nằm xa trục đường chính, địa hình đồi núi (Nà Ngần, Yên Luật 1, Yên Luật 2, Cốc Gọ, Khuổi Pàng, Nà Vạc 2, Bản Giàng 2, Tả Pàng). Tiến hành chọn 20 hộ đại diện (10 hộ/vùng), phát túi nilon màu xanh (chứa rác hữu cơ) và túi màu đỏ (chứa rác vô cơ), thực hiện cân rác vào buổi chiều hàng ngày trong 5 ngày liên tiếp.
    • Đối với rác thải chợ Bản Giới (chợ phiên họp định kỳ 5 ngày/phiên): Tiến hành cân khối lượng rác phát sinh 3 lần vào cuối các ngày phiên chợ; lấy mẫu 20 kg rác đại diện tại chợ để phân loại thủ công và cân từng thành phần.
    • Đối với rác thải cơ quan, trường học: Cân định lượng liên tục trong 5 ngày tại 7 đơn vị (UBND thị trấn, Trạm Y tế, Trường Mầm non, Trường Tiểu học, Trường THCS Xuân Hòa và Trường THPT Hà Quảng).
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp số liệu: Xử lý số liệu sơ cấp và thứ cấp, tính toán các giá trị trung bình, tỷ lệ phần trăm và lập bảng biểu bằng phần mềm Microsoft Excel.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu nêu rõ tính cấp thiết của công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các địa phương miền núi trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh chóng. Tác giả nhấn mạnh thực trạng thị trấn Xuân Hòa sau 10 năm thành lập (2007 - 2017) đã hình thành các điểm tập trung dân cư đông đúc và mạng lưới cơ quan hành chính của huyện Hà Quảng. Lượng chất thải sinh hoạt phát sinh tăng dần trong khi năng lực thu gom và xử lý của đơn vị môi trường chưa đáp ứng đủ yêu cầu, làm nảy sinh tình trạng ô nhiễm môi trường. Trên cơ sở đó, tác giả xác định mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, các yêu cầu kỹ thuật đối với số liệu điều tra thực địa và ý nghĩa thực tiễn của đề tài trong việc cung cấp luận cứ thiết kế mạng lưới quản lý rác thải tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở lý luận và bức tranh thực tiễn về chất thải rắn:

  • Phân tích nguồn gốc phát sinh rác thải từ khu dân cư, thương mại, cơ quan, công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng và y tế; phân loại rác theo mức độ nguy hại, nguồn thải và tính chất lý hóa (hữu cơ, vô cơ, chất trơ).
  • Đánh giá cơ chế tác động của chất thải rắn đến các thành phần môi trường: làm biến đổi độ pH, mất cân bằng dinh dưỡng và gây chai cứng đất; nước rỉ rác chứa kim loại nặng và vi khuẩn gây ô nhiễm nước mặt, nước ngầm; sự phân hủy kỵ khí sinh mùi hôi và các khí độc hại ($CH_4, CO_2, NH_3, H_2S$); ảnh hưởng xấu tới sức khỏe cộng đồng qua tích lũy sinh học và làm suy giảm mỹ quan đô thị.
  • Khái quát hiện trạng quản lý rác thải trên thế giới: Nêu kinh nghiệm áp dụng mô hình 3R (Reduce - Reuse - Recycle) và phân loại 3 dòng rác tại Nhật Bản; công nghệ thiêu đốt thu hồi năng lượng cung ứng điện cho 3% hộ dân tại Singapore; cơ cấu rác thải đô thị tại Mỹ. Đối với các nước châu Á đang phát triển, tỷ lệ chôn lấp và bãi rác lộ thiên vẫn chiếm ưu thế (Việt Nam chiếm 96% chôn lấp/lộ thiên, chỉ 4% làm phân compost; trong khi Ấn Độ, Thái Lan, Indonesia tỷ lệ compost đạt 10 - 20%).
  • Khái quát tình hình quản lý CTRSH tại Việt Nam và tỉnh Cao Bằng: Lượng CTRSH tại các đô thị Việt Nam tăng trung bình 10 - 16%/năm. Tổng hợp số liệu phát sinh rác của tỉnh Cao Bằng cho thấy sự chênh lệch lớn giữa đô thị và nông thôn (thành phố Cao Bằng phát sinh 20 tấn/ngày ở đô thị; huyện Hà Quảng phát sinh 4,92 tấn/ngày ở đô thị và 62,4 tấn/ngày tại khu vực nông thôn). Đa số các huyện trong tỉnh đều thiếu phương tiện vận chuyển đạt chuẩn, các bãi rác chưa có quy hoạch hợp vệ sinh, chủ yếu xử lý bằng chôn lấp thủ công hoặc đốt lộ thiên.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết khung thiết kế nghiên cứu thực địa tại thị trấn Xuân Hòa trong khung thời gian từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017. Nội dung tập trung mô tả cụ thể 4 nội dung nghiên cứu chính cùng quy trình kỹ thuật thu thập dữ liệu:

  • Phương pháp điều tra xã hội học với cỡ mẫu 100 phiếu phỏng vấn hộ gia đình theo cấu trúc bảng hỏi chuẩn hóa.
  • Tiêu chí phân vùng lấy mẫu dựa trên đặc điểm phân bố dân cư, hạ tầng giao thông và hoạt động kinh tế (Vùng 1 gồm 9 xóm trục tỉnh lộ; Vùng 2 gồm 8 xóm vùng xa).
  • Quy chuẩn kỹ thuật thực nghiệm đo đạc khối lượng và thành phần rác thải tại 20 hộ gia đình (5 ngày), chợ Bản Giới (3 phiên chợ, mẫu phân loại 20 kg) và 7 trụ sở cơ quan, trường học trên địa bàn (5 ngày).
  • Phương pháp nhập liệu, xử lý thống kê mô tả trên Microsoft Excel để tính toán tỷ lệ phát thải bình quân đầu người và cơ cấu thành phần rác thải.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Chương này công bố toàn bộ dữ liệu khảo sát và phân tích hiện trạng tại địa phương:

  • Đặc điểm địa bàn: Thị trấn Xuân Hòa có tổng diện tích 3.328,18 ha, gồm 17 xóm với 1.064 hộ gia đình và 4.254 nhân khẩu. Dân cư phân bố không đều, tập trung đông đúc nhất tại xóm Xuân Lộc (165 hộ, 650 nhân khẩu) và xóm Xuân Đại (134 hộ, 506 nhân khẩu). Huyện Hà Quảng là 1 trong 62 huyện nghèo của cả nước, địa hình chia cắt phức tạp, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp.
  • Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh:
    • Nguồn hộ gia đình: Đạt 1.290,2 kg/ngày (tương đương 470,3 tấn/năm). Hệ số phát thải bình quân tại Vùng 1 là 0,36 kg/người/ngày; tại Vùng 2 là 0,20 kg/người/ngày.
    • Nguồn chợ Bản Giới: Phát sinh 60 kg/ngày (bình quân 300 kg/tháng theo các phiên họp, tương đương 3,6 tấn/năm).
    • Nguồn cơ quan, trường học, trạm y tế: Tổng khối lượng phát sinh từ 7 đơn vị là 50,3 kg/ngày (tương đương 21,8 tấn/năm), trong đó Trạm Y tế thị trấn có lượng phát thải cao nhất (13,7 kg/ngày), tiếp đến là Trường Mầm non (9,6 kg/ngày).
    • Tổng khối lượng rác sinh hoạt toàn thị trấn là 1.400,5 kg/ngày. Hộ gia đình là nguồn phát thải chủ yếu, chiếm 92,1%; rác chợ chiếm 4,3%; rác từ cơ quan, trường học chiếm 3,6%.
  • Thành phần rác thải:
    • Rác hộ gia đình: Thành phần rác hữu cơ khó phân hủy/hữu cơ chiếm tỷ trọng lớn nhất với 30,9% (24,7 kg/ngày); nhựa nilon chiếm 18,2% (14,5 kg/ngày); giấy, bìa, carton chiếm 16,1% (12,8 kg/ngày); chai lọ thủy tinh chiếm 13,1% (10,3 kg/ngày); vải sợi, đồ da chiếm 9,1% (7,3 kg/ngày); kim loại chiếm 8,1% (6,5 kg/ngày); các chất khác chiếm 4,5% (3,6 kg/ngày).
    • Rác chợ Bản Giới: Rác hữu cơ chiếm áp đảo tới 67,0% (40,3 kg/ngày); giấy, bìa, carton chiếm 13,8% (8,2 kg/ngày); chai lọ thủy tinh chiếm 7,2% (4,3 kg/ngày); nhựa nilon chiếm 5,8% (3,4 kg/ngày); vải sợi, đồ da chiếm 2,2% (1,3 kg/ngày); kim loại chiếm 2,0% (1,2 kg/ngày); các chất khác chiếm 2,0% (1,3 kg/ngày).
  • Thực trạng phân loại, thu gom và xử lý:
    • Phân loại rác tại nguồn: 85% hộ gia đình không phân loại rác trước khi thải bỏ; chỉ có 15% hộ thực hiện phân loại, chủ yếu là các hộ ở xa tự đào hố chôn lấp rác hữu cơ, bán phế liệu và đốt bao bì nilon.
    • Đơn vị thu gom: Hợp tác xã vệ sinh môi trường - nước sinh hoạt đảm nhiệm với đội ngũ gồm 14 công nhân (12 người quét dọn, 2 người vận chuyển), vận hành 1 xe chở rác chuyên dụng và 6 xe goòng đẩy tay.
    • Phạm vi và tần suất: Thu gom 1 lần/ngày vào khung giờ 16h - 19h, sau đó tập kết tại chợ Bản Giới để xe chở về bãi rác của huyện chôn lấp. Mức phí thu gom là 5.000 đồng/người/tháng. Đơn vị mới chỉ phục vụ được 9/17 xóm nằm dọc đường quốc lộ với khối lượng thu gom đạt khoảng 740 kg/ngày (đạt tỷ lệ 53% tổng lượng rác phát sinh). Còn lại 8/17 xóm vùng xa (chiếm 47% lượng rác) hoàn toàn chưa có dịch vụ thu gom.
    • Phương thức xử lý của người dân qua khảo sát 100 hộ: 55% để trước nhà chờ công nhân thu gom; 20% mang bỏ thùng rác công cộng; 18% vứt rác ở gần nhà, ven đường làng, bờ kênh, ao hồ; 5% đào hố tự chôn hoặc đốt; 2% xử lý bằng cách khác.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tác giả tổng hợp các chỉ số định lượng về khối lượng, thành phần rác thải và các hạn chế của hệ thống quản lý tại thị trấn Xuân Hòa. Từ đó, đề xuất các nhóm kiến nghị cụ thể: chính quyền địa phương cần đầu tư nâng cấp trang thiết bị, tăng cường nhân lực và hỗ trợ kinh phí cho Hợp tác xã vệ sinh môi trường để mở rộng tuyến thu gom tới 8 xóm còn lại; đẩy mạnh tuyên truyền hướng dẫn kỹ thuật phân loại rác tại nguồn cho người dân; chấm dứt tình trạng vứt rác bừa bãi và quy hoạch bãi chôn lấp rác tập trung hợp vệ sinh cho toàn huyện Hà Quảng.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm định lượng chi tiết về bức tranh chất thải rắn sinh hoạt tại một thị trấn miền núi. Dưới đây là các bảng tổng hợp số liệu phát sinh và cơ cấu thành phần rác thải trên địa bàn:

STT Nguồn phát sinh rác thải Khối lượng (kg/ngày) Khối lượng (tấn/năm) Tỷ lệ (%)
1 Hộ gia đình (1.064 hộ) 1.290,2 470,3 92,1
2 Chợ Bản Giới (chợ phiên) 60,0 3,6 4,3
3 Cơ quan, trường học, trạm y tế (7 đơn vị) 50,3 21,8 3,6
Tổng Toàn địa bàn thị trấn 1.400,5 495,7 100,0

Cơ cấu thành phần rác thải sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình và chợ trung tâm có sự khác biệt rõ nét:

STT Thành phần rác thải Rác hộ gia đình (%) Rác chợ Bản Giới (%)
1 Rác hữu cơ khó phân hủy / hữu cơ 30,9 67,0
2 Nhựa nilon 18,2 5,8
3 Giấy, bìa, carton 16,1 13,8
4 Chai lọ thủy tinh 13,1 7,2
5 Vải sợi, đồ da 9,1 2,2
6 Kim loại 8,1 2,0
7 Chất khác 4,5 2,0
Tổng 100,0 100,0

Kết quả khảo sát công tác thu gom và hành vi xử lý rác của người dân ghi nhận các số liệu sau:

  • Tỷ lệ thu gom rác tập trung của địa phương mới chỉ đạt khoảng 53% tổng lượng rác phát sinh (tương đương 740 kg/ngày), giới hạn trong phạm vi 9/17 xóm ven trục đường giao thông chính. 47% lượng rác còn lại tại 8 xóm xa trung tâm không được thu gom.
  • Tỷ lệ hộ gia đình chủ động phân loại rác trước khi xử lý chỉ đạt 15%, trong khi 85% hộ hoàn toàn không thực hiện phân loại.
  • Phương thức xử lý rác của các hộ gia đình: 55% để rác trước nhà cho công nhân thu gom, 20% mang ra thùng rác công cộng, 18% tự vứt rác ở khu vực gần nhà, 5% đào hố tự chôn hoặc đốt thủ công, và 2% áp dụng các hình thức khác.

Các giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Củng cố và nâng cấp năng lực vận hành của Hợp tác xã vệ sinh môi trường - nước sinh hoạt: Bổ sung thêm công nhân quét dọn và phương tiện vận chuyển chuyên dụng; trang bị thêm thùng rác công cộng tại các khu vực tập trung dân cư; mở rộng tuyến thu gom dần vào các xóm xa trung tâm.
  • Triển khai hướng dẫn phân loại rác tại nguồn: Khuyến khích tận dụng hợp phần rác hữu cơ (chiếm 30,9% ở hộ gia đình và 67,0% ở chợ) làm thức ăn chăn nuôi hoặc ủ phân vi sinh phục vụ sản xuất nông nghiệp; thu gom riêng phế liệu có khả năng tái chế (nhựa, giấy, kim loại, thủy tinh) để tái sử dụng; hạn chế việc tự ý đốt rác thải chứa nhựa nilon tại vườn nhà.
  • Hoàn thiện quy hoạch môi trường cấp huyện: Đầu tư nâng cấp bãi chôn lấp rác thải tập trung của huyện Hà Quảng theo tiêu chuẩn bãi chôn lấp hợp vệ sinh, có lớp lót đáy và hệ thống thu gom, xử lý nước rỉ rác nhằm ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm và đất canh tác.
  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục môi trường: Nâng cao ý thức cộng đồng thông qua các tổ chức đoàn thể địa phương; áp dụng các chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi xả rác bừa bãi ra lòng đường, mương rãnh theo Nghị định 155/2016/NĐ-CP.

Đóng góp của khóa luận:

  • Cung cấp bộ dữ liệu thực địa đầu tiên về hệ số phát thải chất thải rắn sinh hoạt theo đầu người tại thị trấn Xuân Hòa (phân tách rõ giữa khu vực trung tâm buôn bán đạt 0,36 kg/người/ngày và khu vực thuần nông xa quốc lộ đạt 0,20 kg/người/ngày).
  • Làm rõ thực trạng chênh lệch dịch vụ môi trường giữa các xóm trung tâm và xóm vùng sâu tại một địa bàn miền núi nghèo, tạo cơ sở thực tiễn cho công tác lập kế hoạch quản lý môi trường của UBND thị trấn Xuân Hòa và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Hà Quảng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Thời gian khảo sát và cân đo thực tế được thực hiện trong thời gian ngắn (từ tháng 08/2017 đến tháng 12/2017), chưa bao quát được sự biến động của khối lượng rác theo các mùa khác nhau trong năm hoặc các thời điểm lễ, tết nguyên đán.
  • Cỡ mẫu thực nghiệm cân rác hộ gia đình chỉ giới hạn ở 20 hộ (10 hộ/vùng); số lần cân mẫu tại chợ và cơ quan trường học diễn ra trong 3 đến 5 đợt ngắn ngày.
  • Đề tài chưa tiến hành phân tích các chỉ tiêu hóa lý chuyên sâu của rác thải (như độ ẩm, độ tro, nhiệt trị, tỷ lệ C/N) và chưa có số liệu quan trắc phân tích chất lượng nước rỉ rác, nước ngầm quanh khu vực bãi rác của huyện do giới hạn về trang thiết bị và kinh phí nghiên cứu thực địa.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng thời gian và tần suất quan trắc định lượng rác thải sinh hoạt qua các mùa trong năm nhằm xác định chính xác hệ số dao động phát thải theo thời gian.
  • Nghiên cứu thực nghiệm các mô hình ủ phân hữu cơ vi sinh (compost) quy mô hộ gia đình và cụm dân cư, tận dụng nguồn rác hữu cơ dồi dào từ các chợ phiên và khu dân cư nông thôn tại huyện Hà Quảng.
  • Đánh giá tác động môi trường chi tiết và khảo sát địa chất, thủy văn phục vụ việc thiết kế, xây dựng bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trên địa bàn huyện.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên, Quản lý môi trường, Địa chính môi trường và Khoa học môi trường khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp, đồ án hoặc tiểu luận nghiên cứu về quản lý chất thải rắn tại khu vực nông thôn, miền núi.
  • Cán bộ phụ trách công tác địa chính - môi trường cấp xã, thị trấn và cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện tham khảo phương pháp điều tra thực địa, bảng hỏi khảo sát nhận thức cộng đồng và cách thức tính toán tải lượng phát thải CTRSH.
  • Các đơn vị dịch vụ môi trường đô thị tham khảo phương thức phân vùng địa bàn và đánh giá nhu cầu trang thiết bị thu gom tại các địa phương có địa hình chia cắt phức tạp.

Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật trong văn bản bao gồm phương pháp phân vùng thu mẫu rác đại diện theo trục giao thông và khoảng cách địa lý, cùng các bảng số liệu định lượng chi tiết về thành phần rác thải chợ phiên miền núi.

Câu hỏi thường gặp

1. Định mức phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân đầu người tại thị trấn Xuân Hòa là bao nhiêu?
Kết quả cân đo thực nghiệm trong 5 ngày liên tiếp chia địa bàn làm 2 vùng phát thải: Vùng 1 (9 xóm trung tâm dọc tuyến tỉnh lộ đường Hồ Chí Minh có hoạt động kinh doanh buôn bán) có định mức phát thải trung bình là 0,36 kg/người/ngày; Vùng 2 (8 xóm nằm xa trục quốc lộ) có định mức phát thải trung bình là 0,20 kg/người/ngày.

2. Cơ cấu thành phần rác thải giữa hộ gia đình và khu vực chợ Bản Giới có điểm khác biệt căn bản nào?
Rác thải khu vực chợ Bản Giới có thành phần rác hữu cơ chiếm tỷ lệ áp đảo lên tới 67,0% do hoạt động mua bán rau củ, thực phẩm tại các phiên chợ; thành phần nhựa nilon chỉ chiếm 5,8%. Ngược lại, rác thải phát sinh từ hộ gia đình có tỷ lệ rác hữu cơ là 30,9%, nhưng tỷ lệ bao bì nhựa nilon khó phân hủy chiếm tới 18,2% và chai lọ thủy tinh chiếm 13,1%.

3. Hiện trạng năng lực và phạm vi phục vụ của đơn vị thu gom rác tại thị trấn Xuân Hòa ra sao?
Công tác thu gom do Hợp tác xã vệ sinh môi trường - nước sinh hoạt thực hiện với 14 công nhân (12 người quét dọn, 2 người vận chuyển), trang bị 1 xe chở rác và 6 xe goòng kéo tay. Đơn vị mới chỉ thu gom được rác tại 9/17 xóm nằm dọc quốc lộ với khối lượng đạt 740 kg/ngày (khoảng 53% tổng lượng rác phát sinh). 8/17 xóm vùng xa (chiếm 47% khối lượng rác) hoàn toàn chưa có dịch vụ thu gom.

4. Mức phí thu gom rác thải sinh hoạt do người dân chi trả tại thị trấn là bao nhiêu?
Mức phí do Hợp tác xã vệ sinh môi trường - nước sinh hoạt trực tiếp thu từ các hộ gia đình nằm trong phạm vi được cung cấp dịch vụ thu gom là 5.000 đồng/người/tháng.

5. Kết quả điều tra về tập quán phân loại và xử lý rác của người dân trên địa bàn ghi nhận những số liệu nào?
Khảo sát 100 phiếu điều tra cho thấy có tới 85% số hộ không thực hiện phân loại rác trước khi thải bỏ, chỉ có 15% số hộ có phân loại. Về biện pháp xử lý, 55% số hộ để rác trước nhà cho công nhân đến thu gom, 20% đưa vào thùng rác công cộng, 18% tự vứt rác ở khu vực gần nhà hoặc mương rãnh, 5% tự đào hố chôn hoặc đốt rác, và 2% sử dụng các biện pháp khác.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Thu Hiền đã phản ánh chi tiết hiện trạng phát sinh, thành phần và công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn cuối năm 2017. Kết quả nghiên cứu xác định tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn là 1.400,5 kg/ngày (tương đương 495,7 tấn/năm), trong đó nguồn từ hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất với 92,1% và chứa tỷ lệ cao các chất hữu cơ cùng nhựa nilon. Nghiên cứu chỉ rõ bất cập hạ tầng khi đơn vị thu gom tại chỗ mới đáp ứng được 53% tổng lượng rác tại 9 xóm ven trục đường chính, trong khi 47% lượng rác ở các xóm vùng sâu chưa được thu gom và tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm môi trường. Các số liệu thực địa và nhóm giải pháp kiến nghị được đề xuất là tài liệu thực tiễn phục vụ công tác quy hoạch, quản lý và đầu tư mạng lưới bảo vệ môi trường cho thị trấn Xuân Hòa cũng như các đô thị miền núi có điều kiện tương đồng.