Đặt vấn đề Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt xã hội đã có những chuyển biến tích cực. Cho đến nay, nó không chỉ phát triển ở các thành phố, khu đô thị lớn của nước ta mà đang mở rộng ra các quận, huyện, các thị trấn và phạm vi nhỏ hẹp hơn là các xã, các xóm. Song song với quá trình phát triển đó, chất lượng cuộc sống của người dân cũng được nâng cao.
Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm xã hội càng lớn, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải sinh hoạt và nó được thải vào môi trường ngày càng nhiều. Thị trấn Xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng là thị trấn miền núi, nằm ở phía bắc tỉnh Cao Bằng. Thị trấn nằm giữa trung tâm của huyện Hà Quảng được thành lập tháng 01 năm 2007, là trung tâm của huyện lỵ nên hầu hết các cơ quan đều đóng trên địa bàn, có đường tỉnh lộ Hồ Chí Minh chạy qua nên địa bàn thuận lợi và có điều kiện cho việc phát triển kinh tế đang dạng. Tập trung đông dân cư, phát sinh nhiều rác thải sinh hoạt, trong khi đó, thị trấn đã có hệ thống thu gom, vận chuyển và xử lý lượng chất thải này, do đó ô nhiễm môi trường do rác thải ngày càng gia tăng.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý rác thải tại thị trấn xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng” làm cơ sở để đề xuất giải pháp quản lý, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đánh giá hiện trạng thu gom, xử lý rác thải tại thị trấn xuân Hòa, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng làm cơ sở để đề xuất giải pháp quản lý, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá hiện trạng thành phần, khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại thị trấn Xuân Hòa. - Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Xuân Hòa. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thị trấn, hiện trạng thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt - Số liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác. - Bố trí thí nghiệm phải đại diện cho địa bàn nghiên cứu.
Ý nghĩa của đề tài - Đề tài là tài liệu để học tập và tham khảo - Số liệu của đề tài là cơ sở để thiết kế mô hình thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt của thị trấn Xuân Hòa - Phát hiện những khó khăn bất cập và những thiếu sót trong công tác thu gom, quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2. Cơ sở pháp lý của đề tài - Luật Bảo vệ môi trường (2014) được Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII, kì họp thứ 7 thông qua ngày 23/6/2014 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014; - Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường năm 2014; - Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết quản lý chất thải và phế liệu; - Nghị định số 155/2016/NĐ-CP ngày 18/11/2016 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; - Quyết định số 31/2014/QĐ-TTg về cơ chế hỗ trợ phát triển các dự án phát điện sử dụng chất thải rắn tại Việt Nam; - Thông tư số 82/2015/TT-BTC ngày 28/5/2015 của Bộ Tài Chính bãi bỏ Thông tư số 39/2008/TT-BTC ngày 19/5/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn; - Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/06/2015 của Bộ Tài nguyên và môi trường ban hành quản lý chất thải nguy hại; 2.
Các khái niệm liên quan 2. Khái niệm về chất thải Chất thải là sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các 4 phương tiện giao thông đường bộ, đường thủy… Chất thải là kim loại, hóa chất và từ các vật liệu khác (Nguyễn Xuân Nguyên và cs, 2004) [8]. Khái niệm về chất thải rắn - Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại. - Chất thải rắn phát thải trong khi sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình nơi công cộng gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là chất thải rắn công nghiệp. - Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
- Lưu giữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý. - Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, chuyển điến nơi xử lý, tái chế, tái xử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. - Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong chất thải rắn. - Chất thải rắn là các loại vật chất ở thể rắn như các vật liệu, đồ vật bị thải ra từ một quá trình cụ thể của hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt.
- Chất thải rắn bao gồm các chất hữu cơ như thức ăn thừa, giấy, các tông, nhựa, vải, cao su, da, lá rụng sân vườn, gỗ… và các chất vô cơ như thủy tinh, lon, thiếc, nhôm, kim loại khác, đất cát… (Nguyễn Đình Hương, 2003) [4]. Khái niệm về chất thải rắn sinh hoạt - Là chất thải có liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại. Rác thải sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà, lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v… - Vì vậy, rác thải sinh hoạt cần được phân loại và có biện pháp tái sử dụng, tái chế, xử lí hợp lí để thu hồi năng lượng và bảo vệ môi trường (Nguyễn Thế Chinh, 2003) [2]. Sự hình thành chất thải rắn sinh hoạt Nguyên vật liệu Chất thải Chế biến Chất thải Thu hồi và tái chế Chế biến lần 2 Tiêu thụ Thải bỏ Hình 2.
Sự hình thành chất thải rắn sinh hoạt Ghi chú: Chất thải Nguyên vật liệu, sản phẩm, các vật liệu thu hồi và tái sử dụng. Nguồn gốc, phân loại và thành phần rác thải 2. Nguồn gốc Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và các vùng nông thôn. Trong đó các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải bao gồm: Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt).
Từ các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trình công cộng. Từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động xây dựng. Từ các làng nghề v. Phân loại rác thải a.
Phân loại theo mức độ nguy hại - Rác thải nguy hại: Là rác thải chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính sau: phóng xạ, dễ cháy,dễ nổ,dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm, gây ngộ độc hoặc các đặc tính nguy hại khác. - Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người. Phân loại theo nguồn thải - Rác thải sinh hoạt: Là rác thải phát sinh trong sinh hoạt cá nhân,hộ gia đình, nơi công cộng được gọi chung là rác thải sinh hoạt. - Rác thải công nghiệp: Là rác thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh, dịch vụ hoặc các hoạt động khác được gọi chung là rác thải công nghiệp.
- Rác thải nông nghiệp: Là lượng rác thải phát sinh từ các hoạt động như: trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng, chăn nuôi, các sản phẩm thải ra từ chế biến sữa, các lò giết mổ…được gọi chung là rác thải nông nghiệp. - Rác thải xây dựng: Là các phế thải như: đất, cát, gạch, ngói, bê tông vỡ do các hoạt động tháo dỡ, xây dựng công trình…. Được gọi chung là rác thải xây dựng. 7 - Rác thải y tế: Rác thải phát sinh từ các hoạt động y tế như: khám bệnh, bào chế, sản xuất, đào tạo, nghiên cứu, thú y,… Sinh ra từ các bệnh viện, các trung tâm điều dưỡng, cơ sở y tế dự phòng.
Bao gồm: Rác thải y tế thông thường (sinh hoạt) bao gồm: bìa, bao hộp đóng gói, khăn giấy lau tay, thức ăn bỏ đi…. Rác thải y tế có nguy cơ lây nhiễm như: bông, băng thấm dịch hoặc máu, các hộp thuốc quá hạn, kim tiêm… - Rác thải từ các nguồn khác như: thương mại, dịch vụ… Để tiện cho việc quản lý còn có cách phân loại khác c.