MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nƣớc ta là một nƣớc phần lớn dân cƣ sống bằng canh tác nông nghiệp chiếm khoảng 70%, diện tích đất nông nghiệp đến thời điểm hiện nay là 9 triệu ha trong đó có trên 4 triệu ha đất trồng lúa. Để đáp ứng đƣợc nhu cầu ngày càng tăng do việc bùng nổ dân số, cùng với xu hƣớng đô thị hóa và công nghiệp hóa ngày càng mạnh, con ngƣời chỉ còn một cách duy nhất là thâm canh để tăng sản lƣợng cây trồng [4]. Với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm nhƣ nƣớc ta thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng nông nghiệp, nhƣng cũng rất thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng.
Do vậy việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV) để phòng trừ sâu hại, dịch bệnh bảo vệ mùa màng, giữ vững an ninh lƣơng thực quốc gia vẫn là một biện pháp quan trọng và chủ yếu. Cùng với phân bón hóa học, HCBVTV là yếu tố rất quan trọng để bảo đảm an ninh lƣơng thực quốc gia. Các hóa chất thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu đã đƣợc sử dụng rộng rãi ở nƣớc ta từ đầu những năm 1960. Từ đó đến nay, HCBVTV vẫn gắn liền với tiến bộ sản xuất công nghiệp, quy mô, số lƣợng, chủng loại ngày càng tăng.
Đã có hơn 100 loại thuốc đƣợc đăng ký sử dụng ở nƣớc ta. Ngoài mặt tích cực của HCBVTV là tiêu diệt các sinh vật gây hại cây trồng, bảo vệ sản xuất, thuốc trừ sâu còn gây nhiều hậu quả nghiêm trọng nhƣ phá vỡ quần thể sinh vật trên đồng ruộng, tiêu diệt sâu bọ có ích (thiên địch), tiêu diệt tôm cá, xua đuổi chim chóc, phần tồn dƣ của thuốc bảo vệ thực vật trên các sản phẩm nông nghiệp, rơi xuống nƣớc bề mặt, ngấm vào đất, di chuyển vào nƣớc ngầm, phát tán theo gió gây ô nhiễm môi trƣờng, ảnh hƣởng tới sức khỏe con ngƣời. Việc lạm dụng và thói quen thiếu khoa học trong bảo quản và sử dụng HCBVTV của ngƣời dân đã gây tác động rất lớn đến môi trƣờng. Nhiều nhà nông do thiếu hiểu biết đã thực hiện phƣơng châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh” đã sử dụng HCBVTV theo kiểu phòng ngừa định kỳ vừa tốn kém lại tiêu diệt nhiều loài có ích, gây kháng thuốc với sâu bệnh, càng làm cho sâu bệnh hại phát triển thành dịch và lƣợng HCBVTV đƣợc sử dụng n 2 càng tăng.
Những năm gần đây vấn đề ô nhiễm môi trƣờng trong sản xuất nông nghiệp ở nƣớc ta đã đƣợc các nhà khoa học, nhà bảo vệ môi trƣờng (BVMT) quan tâm. Tuy nhiên, thực trạng này ngày càng trầm trọng và đã trở thành “vấn nạn” vì luôn thiếu các biện pháp và chế tài cụ thể. Vì vậy, để đƣa ra đƣợc các biện pháp khắc phục tình trạng lạm dụng HCBVTV hiện nay thì việc tìm hiểu hiện trạng và sự hiểu biết của ngƣời dân về việc sử dụng HCBVTV trong sản xuất nông nghiệp tại xã Vô Tranh nói riêng và ở Việt Nam nói chung là rất quan trọng. Xuất phát từ vấn đề trên, đƣợc sự đồng ý của Ban giám hiệu trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa Môi Trƣờng, dƣới sự hƣớng dẫn của TS.Nguyễn Chí Hiểu, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài "Đánh giá hiện trạng sử dụng HCBVTV trong nông nghiệp tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên ".
Mục đích nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng sử dụng HCBVTV trong sản xuất nông nghiệp tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá hiện trạng sử dụng HCBVTV của ngƣời dân tại khu vực nghiên cứu. - Đánh giá công tác thu gom vỏ bao bì HCBVTV và ô nhiễm môi trƣờng do HCBVTV tồn lƣu tại khu vực nghiên cứu. - Trên cơ sở đó đề xuất ra các biện pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm do HCBVTV, nâng cao ý thức ngƣời dân địa phƣơng cũng nhƣ hiệu quả công tác quản lý HCBVTV tại địa phƣơng.Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Củng cố kiến thức cơ sở cũng nhƣ kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn để phục vụ cho công tác BVMT sau này.
+ Tạo cơ sở cho những định hƣớng nghiên cứu khoa học mới. - Ý nghĩa trong thực tiễn: + Đánh giá đƣợc hiện trạng sử dụng HCBVTV tại xã Vô Tranh, huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên. + Đánh giá đƣợc nhận thức của ngƣời dân khi sử dụng HCBVTV trong sản xuất nông nghiệp. n 3 + Đƣa ra đƣợc các tác động của HCBVTV đối với sức khỏe con ngƣời và hệ sinh thái (HST).
+ Tạo cơ sở đề xuất đƣợc các biện pháp quản lý và sử dụng HCBVTV một cách phù hợp. + Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trƣờng cho ngƣời dân địa phƣơng. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Cơ sở lý luận Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan - Khái niệm về môi trường Môi trường: Bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con ngƣời, có ảnh hƣởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con ngƣời và sinh vật [7]. - Khái niệm HCBVTV: Là danh từ chung để chỉ một chất hoặc một hợp chất bất kỳ có tác dụng dự phòng, tiêu diệt hoặc kiểm soát các sinh vật gây hại kể cả các Vector gây bệnh cho ngƣời và động vật, các loại côn trùng khác hay động vật có hại trong quá trình sản xuất, chế biến, dự trữ, xuất khẩu, tiếp thị lƣơng thực, sản phẩm trong nông nghiệp, sản phẩm của gỗ, thức ăn gia súc hoặc phòng chống các loại côn trùng, ký sinh trùng [8]. - Khái niệm về chất độc Chất độc: Là những chất khi xâm nhập vào cơ thể sinh vật một lƣợng nhỏ cũng có thể gây biến đổi sâu sắc về cấu trúc hay chức năng trong cơ thể sinh vật, phá huỷ nghiêm trọng những chức năng của cơ thể, làm cho sinh vật bị ngộ độc hoặc bị chết [5]. - Khái niệm về độc tính Độc tính: Là khả năng gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật ở một lƣợng nhất định của chất độc đó [5].
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: Độc tính là tính gây độc của một chất đối với cơ thể sinh vật. Độc tính đƣợc chia ra các dạng: + Độc cấp tính: chất độc xâm nhập vào cơ thể gây nhiễm độc tức thì, kí hiệu LD50 (letal dosis 50), biểu thị lƣợng chất độc (mg) đối với 1 kg trọng lƣợng cơ thể có thể gây chết 50% cá thể vật thí nghiệm (thƣờng là chuột hoặc thỏ). Nếu chất độc lẫn với không khí (hơi độc, hay ở trong nƣớc) thì đƣợc kí hiệu LC50 (letal concentration 50) biểu thị lƣợng chất độc (mg) trong 1m3 không khí hoặc 1 lít nƣớc có thể gây chết 50% cá thể thí nghiệm. LD50 và LC50 càng thấp chứng tỏ độ độc cấp tính càng cao.
n 5 + Độc mạn tính (độc trường diễn): chỉ khả năng tích luỹ chất độc trong cơ thể, khả năng gây đột biến, gây ung thƣ hoặc quái thai, dị dạng. - Khái niệm ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường: Là sự biến đổi của các thành phần môi trƣờng không phù hợp với tiêu chuẩn môi trƣờng, gây ảnh hƣởng xấu đến con ngƣời, sinh vật [7]. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ môi trƣờng của nƣớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 29/2005/L- CTN ngày 29/11/2005. - Nghị định số 114/2013/NĐ-CP ngày 3/10/2013“Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giống cây trồng, bảo vệ và kiểm dịch thực vật”.
- Quyết định 63/2007/QĐ-BNN của Bộ NN&PTNT về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về Quản lý thuốc bảo vệ thực vật ban hành theo Quyết định 89/2006/QĐ-BNN ngày 02/10/2006 của Bộ trƣởng Bộ NN&PTNT. - Quyết định số 05/2013/QĐ-UBND tỉnh Thái Nguyên ngày 09 tháng 03 năm 2013 về “ Ban hành quy định quản lý nhà nƣớc về thuốc BVTV trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên của UBND tỉnh Thái Nguyên”. - Quyết định số 184/2006/QĐ-TTg ngày 10/8/2006 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt kế hoạch quốc gia thực hiện công ƣớc Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy. - Quyết định số 89/2006/QĐ-BNN ngày 02/10/2006 về việc Ban hành về quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật.
- Thông tƣ số 03/2015/TT-BNNPTNT Danh mục thuốc bảo vệ thực vật đƣợc phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam. - Thông tƣ số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/04/2011 Quy định về quản lý chất thải nguy hại. - Thông tƣ số 38/2010/TT-BNNPTNT ngày 28/06/2010 của Bộ NN&PTNT về việc quy định về quản lý thuốc bảo vệ thực vật và Công văn số 1538/BVTV-QLT ngày 8/9/2010 hƣớng dẫn thi hành Thông tƣ số 38/2010/TT-BNNPTNT. - Thông tƣ số 55/2014/TT-BNNPTNT ngày 31/12/1014 của Bôk nông nghiệp và phát triển nông thôn về “ hƣớng dân triển khai một số hoạt động bảo vệ môi trƣờng trong chƣơng trình mục tiêu quốc qia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020”.
Giới thiệu chung về HCBVTV Chủng loại HCBVTV đang sử dụng ở Việt Nam rất đa dạng. Hiện nay, nhiều nhất vẫn là hợp chất lân hữu cơ, Chlor hữu cơ, nhóm độc từ Ia, Ib, đến II và III, sau đó là các nhóm carbamat và pyrethroid [4]. Theo báo cáo của Bộ thƣơng mại thì hàng năm, mức tiêu thụ HCBVTV trong nƣớc khoảng 1,5 triệu tấn, không kể một số lƣợng không nhỏ đƣợc nhập cảng lậu qua đƣờng biên giới mà chính quyền không thể kiểm soát đƣợc. Theo thông tƣ 21/2013/TT-BNNPTNT ngày 17 tháng 04 năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì danh mục thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) đƣợc phép sử dụng có 1.643 hoạt chất, danh mục thuốc BVTV hạn chế sử dụng có 12 hoạt chất, danh mục thuốc BVTV cấm sử dụng có 29 hoạt chất khác nhau [10].
Phân loại độ độc của HCBVTV Các nhà sản xuất HCBVTV luôn ghi rõ độc tính của từng loại, đơn vị đo lƣờng đƣợc biểu thị dƣới dạng LD50 (Lethal Dose 50) và tính bằng mg/kg cơ thể. Các loại HCBVTV đƣợc chia mức độ độc nhƣ sau: Bảng 2. Bảng phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại theo quy định của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Trị số LD50 của thuốc (mg/kg) Dạng lỏng Dạng rắn Qua miệng Qua da Qua miệng Qua da Rất độc ≤ 20 ≤ 40 ≤5 ≤ 10 Độc 20-200 40-400 5-50 10-100 Độc trung bình 200-2000 400-4000 50-500 100-1000 Ít độc > 2000 > 4000 > 500 > 1000 (Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV, 2007)[5] Trong đó: - LD50. Liều chất độc cần thiết giết chết 50% chuột thực nghiệm, giá trị LD50 càng nhỏ, chứng tỏ chất độc đó càng mạnh.