Chương 1 TONG QUAN 1. Téng quan về tài nguyên nước 1. Khái niệm tài nguyên nước Theo Nguyễn Thanh Sơn (năm 2005), Giáo trinh đánh giá tài nguyên nước Việt Nam, nước là một loại tài nguyên quý giá và được coi là vĩnh cửu. Không có nước thì không có sự sống trên hành tinh của chúng ta.
Nước là động lực chủ yếu chi phối mọi hoạt động dân sinh kinh tế của con người. Nước được sử dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, thuỷ điện, giao thông vận tải, chăn nuôi thuỷ sản v. Tài nguyên nước là lượng nước trong sông, ao hồ, đầm lầy, biển và đại dương và trong khí quyền, sinh quyên. Tuy mang đặc tính vĩnh cửu nhưng trữ lượng hang năm không phải là vô tận, tức là sức tái tạo của dong chảy cũng nam trong một giới hạn nào đó không phụ thuộc vào mong muốn của con người.
Điều 2 Luật Tài nguyên nước Việt Nam (2012) quy định "Tài nguyên nước bao gồm các nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển thuộc lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Khoản 14 Điều 2 của Luật nảy, ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chat vật lý, tính chất hóa học và thành phan sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Nhìn chung, tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường.
Hầu hết các hoạt động của con người đều cần nước. Theo Nguyễn Thanh Sơn (năm 2005), biết rõ các đặc trưng tài nguyên nước sẽ cho chúng ta phương hướng cụ thê trong việc sử dụng, quy hoạch khai thác và bảo VỆ nó. Nước trên trái đất và các vấn đề về tài nguyên nước Theo Nguyễn Thanh Sơn (năm 2005), Giáo trinh đánh giá tài nguyên nước Việt Nam. nêu lên van đề nước trên trái đất và các van đề về tài nguyên nước như sau: Trên hành tinh chúng ta nước tồn tai đưới nhiều dang khác nhau: trên mặt dat, trong biển và đại dương, dưới đất và trong không khí dưới các dang: lỏng (nước sông suối, ao hồ, biển), khí (hơi nước) và rắn (băng, tuyết).
Lượng nước trong thuỷ quyền theo UNESCO công bố được phân bồ như sau: + Lượng nước trong thuỷ quyên: 1. 10° km? 100 % + Nước ngọt: 35. 10° km 2,5% + Nước mặn: 1351. 10° Em 97,5 % Trong thành phan nước ngọt thì dang rắn chiếm 24,3.
10°km> (69,4%), dang lỏng là 10,7. Sự phân bố của lượng nước trên Trái Dat không đều theo các đại dương, biển và các lục địa. Các dạng chính của hoạt động kinh tế gây ảnh hưởng lớn nhất đến sự thay đổi số lượng và chất lượng tài nguyên nước là: nhu cầu dùng nước cho công nghiệp và nhu cầu công cộng, đồ nước thải, chuyển dòng chảy, đô thị hoá, thành lập hồ chứa, tưới và làm ngập đất khô, tiêu thoát, các biện pháp nông lâm nghiệp và v. Nước bị nhiễm ban có thé trở nên bat lợi nhất định đối với người sử dụng nước.
Thế nên, tại sao khi đánh giá ảnh hưởng của các hoạt động kinh tế lên tài nguyên nước cần phải tính đến không chỉ sự thay đổi số lượng của nó mà còn cả chất lượng. Thực trạng tài nguyên nước của Việt Nam Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường (năm 2021), 7„yết minh Dé án Đảm bảo an ninh tài nguyên nước quốc gia, một số thông tin về hiện trạng tài nguyên nước của Việt Nam được tóm tắt như sau: a. Tong quan về hệ thông sông, suối, hồ chứa * Hệ thống sông, suối VỀ nguồn nước, Việt Nam có 697 sông, suối, kênh, rạch thuộc nguồn nước liên tỉnh, 173 sông, suối, kênh, rạch thuộc L M Red Thai Bình nguồn nước liên quốc gia và 38 hồ, dam phá liên tỉnh. Việt Nam nằm cuối nguồn Thạch Han &Ganh của 5 hệ thống sông lớn, gồm: lớn nhất là Costa Hương * ` sông Mê Công (795 nghìn km”) có 92% “ Thu Bon & - WG Tra Khục " diện tích thuộc nước ngoài (Trung Quốc, Se San Kone Myanmar, Thái Lan, Lào và Campuchia); Be sông Hồng (155 nghìn km?) có 59% nam ở nước ngoài, chủ yếu là Trung Quốc (91,2 Mekong SERCO nghìn km?); sông Đồng Nai (40 nghìn km?) có 17% thuộc Campuchia (6,7 nghìn km?); Z9 sông Mã (28,4 nghìn km”), gần 38% thuộc Hình 1.
Hệ thông sông chính của Lào và sông Cả (27,2 nghìn km”), 34% Việt Nam (Nguon: Bộ Tài nguyên và môi trường, 2021) thuộc Lào (9,3 nghìn km’). * Hồ chứa Theo thống kê sơ bộ, hiện nay trên dia bàn cả nước có khoảng trên 7.160 hồ chứa thủy loi, thủy điện, trong đó trên 2.300 hồ có dung tích từ 0,2 triệu m° trở lên, trong đó: - Khoảng 6.660 hồ chứa thủy lợi do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn quản lý hoặc phân cấp quản lý cho các địa phương, với tổng dung tích ước tỉnh khoảng 10 tỷ mì. - Khoảng 500 hồ chứa thủy điện đã đi vào vận hành (ngoài ra còn khoảng 300 dự án thủy điện đang triển khai xây dựng và chuẩn bị đi vào vận hành) đo Bộ Công Thương quản lý, tổng dung tích các hồ chứa thủy điện vào khoảng 60 tỷ mỶ, chiếm khoảng 85% tông dung tích các hồ chứa trên cả nước. Dé đáp ứng các yêu cầu trữ lượng, điều tiết dong chảy phục vụ cấp nước trong mùa khô và phòng, chống lũ, lụt trong mùa mưa, trên cả nước có 11 lưu vực sông xây dựng các hồ chứa có nhiệm vụ phòng, chống lũ cho hạ du hoặc có quy định bắt buộc các hồ dành dung tích để phòng, chống và giảm lũ cho hạ du theo các Quy trình vận hành liên hồ chứa do Thủ tướng Chính phủ ban hành với tổng dung tích phòng, chống lũ cho hạ du khoảng 14,6 tỷ m nước.
Tai nguyên nưóc mat Việt Nam được đánh giá là quốc gia có nguồn tài nguyên nước mặt khá phong phú. Mặc dù tổng lượng dòng chảy năm trung bình nhiều năm của các sông vào khoảng 830-840 ty mỶ nhưng tài nguyên nước của Việt Nam bị phụ thuộc nhiều vào nguồn nước ngoại sinh. Hàng năm, các sông, suối xuyên biên giới chuyển vào nước ta lượng nước khoảng 520 ty mỶ, chiếm khoảng 63% tổng lượng nước trung bình hàng năm của hệ thống sông nước ta. Đồng thời, hằng năm hệ thống sông ở nước ta cũng vận chuyên khoảng 42 tỷ mỶ nước chảy qua biên giới sang các nước Trung Quốc, Lào và Campuchia.
Hiện trạng khai thác, sử dụng nước của các ngành, lĩnh vực Tổng lượng nước dang được khai thác, sử dụng hàng năm khoảng 80,6 ty mỶ, chiếm xấp xi 10% tổng lượng dòng chảy năm của cả nước. Trong đó, trên 80% lượng nước được sử dụng cho mục đích nông nghiệp (khoảng 65 tỷ mỶ/năm) và cơ cấu sử dụng nước đang có xu hướng tăng dần cho công nghiệp, thuỷ sản và sinh hoạt. Lượng nước sử dụng tập trung chủ yếu vào 7-9 tháng mùa khô, khi mà dòng chảy trên các hệ thống sông đã bị suy giảm và với tông lượng nước cả mùa chỉ bằng khoảng 20%-30% (khoảng 160-250 tỷ mỶ) so với lượng nước của cả năm. Đô thị 3% Công nghiệp 5% Thủy sản 11% Nông nghiệp 81% Hinh 1.
Tỷ lệ khai thác, sử dụng nước cho các ngành (Không tính lượng nước sử dụng cho năng lượng) (Nguôn: Bộ tài nguyên và môi trường, 2021) d. Cấp nước sinh hoạt nông thôn, đô thị * Cấp nước nông thôn: Tổng số công trình cấp nước tập trung nông thôn đã xây dựng khoảng trên 16.573 công trình, cấp nước sinh hoạt cho 28,5 triệu người (khoảng 44% dân số nông thôn). Phần lớn hệ thông cấp nước nông thôn được lấy từ nguồn nước dưới dat. Ty lệ hộ dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh khoảng 88,5%, (Trong đó 51% sử dụng nước sạch đạt Quy chuẩn QCVN 01-1:2018/BYT).
56% dân số hiện đang sử dụng công trình cấp nước quy mô hộ gia đình. Hạ tầng ngành nước ở khu vực nông thôn còn hạn chế, việc đầu tư, nâng cấp sản xuất còn thiếu đồng bộ ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng nước. Tỷ lệ công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn hoạt động không hiệu quả chiếm tỷ lệ khoảng 30%. Giá nước sinh hoạt nông thôn hiện nay được xem là quá thấp.
Việc cho không hoặc bán rẻ cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng sử dụng nước lãng phí và mức độ xã hội hoá trong dịch vụ cấp nước nông thôn chậm phát triển. Không hoạt động _ Hoạt động 15% tốt Kém hiệu Ấ 33% quả 17% = Hoạt động tốt = Trung bình = Kém hiệu quả #® Không hoạt động Hình 1. Tình hình hoạt động của các công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn (Nguồn: Bộ tài nguyên và môi trường, 2021) * Cap nước đô thị: Khu vực đô thị có khoảng 770 nhà máy nước với tổng công suất đạt khoảng 10,6 triệu mỶ/ngày đêm (tăng 4,4 triệu mỶ/ngày đêm so với năm 2010). Tỷ lệ dan cư đô thị được cung cấp nước qua hệ thống cấp nước tập trung đạt 89% (Tăng 13% so với năm 2010); tỷ lệ thất thoát, thất thu nước sạch đô thị bình quân toàn quốc tính đến tháng 10 năm 2020 còn khoảng 19% (giảm 11% so với năm 2010).
Các nha máy nước khai thác, sử dụng nguồn nước mặt chiếm khoảng 70% tông nguồn nước và 30% còn lại sử dụng nước ngầm. Đối với hệ thống cấp nước đô thị, mặc dù đã có nhiều cải tiến và nâng cấp để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước của người dân. Tuy nhiên, do áp lực về sự gia tăng dan số nhanh, nhu cau sử dụng nước ngày càng tăng cao nên hệ thống cấp nước sinh hoạt đô thị còn gặp nhiều khó khăn, việc đầu tư phát triển cấp nước chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu, phạm vi bao phủ dịch vụ cấp nước còn thấp, chất lượng dịch vụ cấp nước cũng chưa 6n định. Khai thác, sử dụng nước cho sản xuất nông nghiệp Nông nghiệp là ngành đứng đầu trong việc khai thác, sử dụng nước.
Tổng lượng nước khai thác, sử dụng cho ngành nông nghiệp trên cả nước khoảng 65 tỷ m/năm và chủ yếu sử dụng nguồn nước mặt (59,9 tỷ m). Trong đó, lưu vực sông Đồng Nai khoảng 8,7 tỷ m?/nam (chiếm 14,3%). Tính đến nay, trên toàn quốc đã xây dựng được khoảng hơn 900 hệ thống thuỷ lợi có quy mô diện tích phục vụ từ 200 ha trở lên; trong đó, có 122 hệ thống thủy lợi vừa và lớn với diện tích phục vụ trên 2. Tổng số công trình thủy lợi là 86.202 công trình, gồm: 7.