MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bảo vệ môi trường là mục tiêu ưu tiên trong phát triển bền vững của mỗi Quốc gia. Bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống và sức khỏe cộng đồng. Nhưng hiện nay môi trường sống đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi chính bàn tay của con người.
Dân số bùng nổ, kinh tế phát triển đem theo nhiều hệ quả như ô nhiễm môi trường, thực phẩm bẩn, nhu cầu tiếp cận các dịch vụ y tế tăng cao đã gây nên sự quá tải cho các bệnh viên và các cơ sở y tế. Kéo theo đó là sự phát triển sinh lượng chất thải y tế vô cùng lớn vào môi trường Chất thải y tế chứa đựng nhiều yếu tố độc hải, tiềm ẩn những hiểm họa khôn lường cho môi trường và sức khỏe con người. Các bệnh viện và các cơ sở y tế làm phát sinh chất thải rồi xử lý bằng cách xả thẳng ra môi trường, chôn lấp mất vệ sinh, tiêu hủy sơ sài, tái chế không kiểm soát… đã và đang là thực trạng gây rất nhiều nhức nhối trong xã hôi, cuộc sống. Do đó cần được kiểm soát chặt chẽ.
Hiện nay, rất nhiều bệnh viện và các cơ sở y tế khác đã chủ động và có nhiều nỗ lực trong công tác quản lý chất thải y tế, góp phần bảo vệ môi trường trong hoạt động y tế. Tuy nhiên, hiện nay công tác quản lý chất thải nói riêng và quản lý môi trường nói chung tại các bệnh viên vẫn đang còn nhiều bất cập. Các công tác này là hoạt động rất có ý nghĩa trong việc đảm bảo sức khỏe của người dân và chất lượng môi trường, cần được chú trọng nhiều hơn. Bệnh viện Đa khoa huyện Phú Lương được thành lập năm 2008, là một bệnh hạng 3 với quy mô 107 giường bệnh, là nơi tiếp nhận và điều trị bệnh của huyện.
Bệnh viện đnag từng ngày nâng cao chất lượng và cơ sở vật chất để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Theo đó, lượng chất thải phát sinh ngày càng nhiều và việc quản lý chất thỉa y tế một cách hiệu quả và hoàn thiện hệ thống chăm sóc sực khỏe ngày càng gặp phải nhiều vấn đề Vì vậy, việc phát sinh và thải bỏ chất thải y tế nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ gây nguy hại đến môi trường xung quanh và ảnh hưởng c 2 trực tiếp đến sức khỏe của người dân. Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng quản lý môi trường tại bệnh viện Đa khoa Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu tổng quát Đánh giá hiện trạng và quản lý môi trường tại bệnh viện Đa khoa Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên 1. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các bệnh viện đa khoa Phú Lương, trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. - Đánh giá thực trạng môi trường không khí - Đánh giá thực trạng môi trường nước - Đề xuất một số biện pháp quản lý chất thải, giảm thiểu ô nhiễm phù hợp với tình hình thực tế. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu áp dụng vào thực tế. - Rèn luyện về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế. - Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đánh giá được hiện trạng quản lý rác thải y tế nguy hại tại bệnh viện Đa khoa Phú Lương có những khó khăn, hạn chế gì.
- Có những biện pháp đề xuất hiệu quả, khả thi trong công tác quản lý rác thải y tế của bệnh viện. - Góp phần chung vào công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn Tỉnh. c 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Các khái niệm chung Chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác (Quốc hội, 2014). Chất thải nguy hại (CTNH) là chất thải chứa các chất hoặc hợp chất có một trong những đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc dễ ăn mòn, dễ lây nhiễm và các đặc tính nguy hại khác), hoặc tương tác với những chất gây nguy hại cho môi trường và cho sức khỏe con người (Trịnh Thị Thanh & Nguyễn Khắc Kinh, 2005). Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường. Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa các yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy hoàn toàn.
Quản lý chất thải y tế là quá trình phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, giảm thiểu, tái chế, vận chuyển, xử lý chất thải y tế và kiểm tra giám sát việc thực hiện (Quốc hội, 2014). Thu gom là quá trình tập hợp, vận chuyển chất thải y tế từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải trong cơ sở y tế (Quốc hội, 2014). Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ khu lưu giữ chất thải của cơ sở y tế đến nơi lưu giữ, xử lý, tiêu hủy cho cụm cơ sở y tế (Quốc hội, 2014). Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây huy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và môi trường (Bộ Y tế, 2008).
Nguồn gốc chất thải y tế Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện, các cơ sở y tế khác như trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám sản phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại trú, trung tâm lọc máu…, các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu y học, ngân hàng máu… 2. Phân loại chất thải y tế Theo Quy chế Quản lý chất thải y tế ban hành theo quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của Bộ Y tế, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm sau: chất thải lây nhiễm, chất thải hóa học nguy hại, chất thải phóng xạ, bình chứa áp suất, chất thải thông thường (Bộ Y tế, 2007). * Chất thải lây nhiễm Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh cưa, cưa, các ống tiêm, mành thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế. Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấmdịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm. Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người: rau thai, bào thai, và xác động vật thí nghiệm. * Chất thải hóa học nguy hại Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng. Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế.
Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuộc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì c 5 (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chuẩn đoán hình ảnh, xạ trị). * Chất thải phóng xạ Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất. * Bình chứa áp suất Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung. Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt.
* Các chất thải thông thường Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm: Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín. Những chất thải nàykhông dính máu, dịch sinh học vàcác chất hóa học nguy hại. Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi ni long. Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
Khối lượng và thành phần chất thải rắn y tế 2. Khối lượng chất thải rắn y tế Nắm được số lượng chất thải phát sinh là điều quan trọng để đưa ra những cách xử lý khác nhau. Tuy nhiên, trên thực tế việc ước tính khối lượng chất thải phát sinh từ hoạt động của các cơ sở y tế nói chung và từ hoạt động của các bệnh viện là công việc khó khăn. Thông thường, khối lượng chất thải phát sinh phụ thuộc vào quy mô bệnh viện, cán bộ y tế và các phương pháp kĩ thuật áp dụng trong điều trị bệnh c 6 2.
Thành phần chất thải rắn y tế Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so với các CTR khác. Các loại chất thải này nếu không được phân loại cẩn thận trước khi sử lý chung với các loại chất thải sinh hoạt sẽ gây ra những nguy hại đáng kể. Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 25% tổng lượng CTRYT, chưa kể 52% CTRYT là các chất hữu cơ. Trong thành phần CTRYT có lượng lớn chất hữu cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có các thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%.
Vì vậy, khi lựa chọn công nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt để và không phát sinh khí độc hại (Bộ tài nguyên và Môi trường, 2011).