chương I, điều 3, khoản 4 luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014 thì: “ Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Cơ sở pháp lý của đề tài - Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014. - Nghị định 19/2015/NĐ-CP của Chính phủ Ngày 14/02/2015 về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. - Luật Tài nguyên nước số: 17/2012/QH13 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 26/12/2012 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2013.
- Nghị định số 117/2007/NĐ-CP ngày 11/07/2007 của Chính Phủ về sản xuất, cung cấp và tiêu thụ nước sạch. - Nghị định số 179/1999/NĐ-CP ngày 30/12/1999 của Chính Phủ quy định việc thi hành luật tài nguyên nước. - Nghị định số 201/2013/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước. - Quyết định số 16/2008/QĐ-BTNMT ngày 31 tháng 11 năm 2008 của Bộ Tài nguyên môi trường ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường.
- Nghị định 59/2007 NĐ – CP ngày 09/04/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn. - Quyết định số 800/QĐ – TTg ngày 04 tháng 06 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020. - Quyết định số 366/ QĐ – TTg ngày 31 tháng 03 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chuong trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2010 – 2015. - Chỉ thị số 36/2008/CT – BNN ngày 20/ 02/ 2008 của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn về việc tăng cường hoạt động bảo vệ môi trường trong nông nghiệp và phát triển nông thôn.
- Căn cứ vào các hệ thống TCVN như: n 8 + QCVN 02: 2009/ BYT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt. + QCVN 09: 2008/ BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm. + QCVN 14: 2008/ BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải sinh hoạt. + QCVN 15: 2008/ BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật trong đất.
- Căn cứ các văn bản pháp lý của tỉnh Thái Nguyên: + Quyết định số 1282 /QĐ-UBND ngày 25/5/2011 của UBND tỉnh Thái Nguyên về việc phê duyệt Chương trình Xây dựng nông thôn mới tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020; + Đề án số 56/ĐA- UBND ngày 15/12/2010 của UBND huyện Đồng Hỷ về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Đồng Hỷ 2011-2015; + Nghị quyết số 12-NQ/HU ngày 30/3/2012 của Huyện ủy Đồng Hỷ về xây dựng nông thôn mới huyện Đồng Hỷ giai đoạn 2012-2015, định hướng đến năm 2020. + Nghị quyết số 29 /2012/NQ-HĐND ngày 30 tháng 7 năm 2012 của HĐND xã Nam Hòa về việc thông qua đồ án qui hoạch chung xây dựng nông thôn mới xã Nam Hòa giai đoạn 2011 - 2015, định hướng đến năm 2020. Cơ sở thực tiễn của đề tài 2. Thực trạng môi trường và công tác quản lý môi trường trên thế giới Khí hậu Toàn cầu biến đổi và tần xuất thiên tai gia tăng Các nhà khoa học cho biết, trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái Đất đã nóng lên khoảng 0,50C và trong thế kỷ này sẽ tăng từ 1,5 - 4,50C so với nhiệt độ ở thế kỷ XX.
Trái Đất nóng lên có thể mang tới những bất lợi đó là: - Mực nước biển có thể dâng lên cao từ 25 đến 140cm, do sự tan băng và sẽ nhấn chìm một vùng ven biển rộng lớn, làm đất mất đi nhiều vùng sản xuất nông nghiệp. n 9 - Thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất thiên tai như gió, bão, động đất, phun trào núi lửa, hoả hoạn và lũ lụt. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự sống của loài người một cách trực tiếp và gây ra những thiệt hại về kinh tế mà còn gây ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng khác. Trái Đất nóng lên chủ yếu do hoạt động của con người mà cụ thể là: - Do sử dụng ngày càng tăng lượng than đá, dầu mỏ và phát triển công nghiệp dẫn đến gia tăng nồng độ CO2 và SO2 trong khí quyển.
- Khai thác triệt để làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên rừng và đất rừng, nước là bộ máy khổng lồ giúp cho việc điều hoà khí hậu. Sự suy giảm tầng Ôzôn (O3) Ôzôn là loại khí hiếm trong không khí nằm trong tầng bình lưu khí quyển gần bề mặt Trái Đất và tập trung thành một lớp dày ở độ cao từ 16 - 40 km phụ thuộc vào vĩ độ. Việc giao thông đường bộ do các phương tiện có động cơ thải ra khoảng 30 - 50% lượng NOx ở các nước phát triển và nhiều chất hữu cơ bay hơi (VOC) tạo ra Ôzôn mặt đất. Nếu không khí có nồng độ Ôzôn lớn hơn nồng độ tự nhiên thì môi trường bị ô nhiễm và gây tác hại đối với sức khoẻ con người.
Các chất làm cạn kiệt tầng Ôzôn (ODS - Ozon Depletion Substances) bao gồm: Cloruafluorocacbon (CFC); mêtan (CH4); các khí nitơ ôxit (NO2, NO, NOx) có khả năng hoá hợp với O3 và biến đổi nó thành ôxy. Tài nguyên bị suy thoái. Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh mẽ, đất hoang bị biến thành sa mạc. Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng.
Sự phát triển đô thị, khu công nghiệp, du lịch và việc đổ bỏ các loại chất thải vào đất, biển, các thuỷ vực đã gây ô nhiễm môi trường ở quy mô ngày càng rộng, đặc biệt là các khu đô thị. Nhiều vấn đề môi trường tác động tương tác với n 10 nhau ở các khu vực nhỏ, mật độ dân số cao. Ô nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng ồn và nước đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về môi trường. Sự gia tăng dân số.
Đầu thế kỷ XIX, dân số Thế giới mới có 1 tỷ người nhưng đến năm 1927 tăng lên 2 tỷ người; năm 1960: 3 tỷ; năm 1974: 4 tỷ; năm 1987: 5 tỷ và năm 1999 là 6 tỷ người, trong đó trên 1 tỷ người trong độ tuổi từ 15 - 24 tuổi. Mỗi năm dân số Thế giới tăng thêm khoảng 78 triệu người. Đến năm 2015, dân số Thế giới sẽ ở mức từ 6,9 - 7,4 tỷ người và đến 2025 dân số sẽ là 8 tỷ người và năm 2050 sẽ là 10,3 tỷ người. Thực trạng môi trường, công tác quản lý môi trường taị Việt Nam 2.
Tình hình chung Một vấn đề nóng bỏng, gây bức xúc trong dư luận xã hội cả nước hiện nay là tình trạng ô nhiễm môi trường sinh thái do các hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người gây ra. Vấn đề này ngày càng trầm trọng, đe doạ trực tiếp sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, sự tồn tại, phát triển của các thế hệ hiện tại và tương lai. Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế - xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Đối tượng gây ô nhiễm môi trường chủ yếu là hoạt động sản xuất của nhà máy trong các khu công nghiệp, hoạt động làng nghề và sinh hoạt tại các đô thị lớn.
Ô nhiễm môi trường bao gồm 3 loại chính là: ô nhiễm đất, ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí Nhìn chung, hầu hết các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước chưa đáp ứng được những tiêu chuẩn về môi trường theo quy định. Thực trạng đó làm cho môi trường sinh thái ở một số địa phương bị ô nhiễm nghiêm trọng. n 11 Cộng đồng dân cư, nhất là các cộng đồng dân cư lân cận với các khu công nghiệp, đang phải đối mặt với thảm hoạ về môi trường. Việc phát triển các làng nghề có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và giải quyết việc làm ở các địa phương.
Tuy nhiên, hậu quả về môi trường do các hoạt động sản xuất làng nghề đưa lại cũng ngày càng nghiêm trọng. Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2 và NOx thải ra trong quá trình sản xuất khá cao. Hình thức các đơn vị sản xuất của làng nghề rất đa dạng, có thể là gia đình, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp. Tuy nhiên, do sản xuất mang tính tự phát, sử dụng công nghệ thủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằng sản xuất chật chội, việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải ít được quan tâm, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân làng nghề còn kém.
Bên cạnh đó lại thiếu một cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, chưa có những chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghề thủ công gây ô nhiễm môi trường và cũng chưa kiên quyết loại bỏ những làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Bên cạnh các khu công nghiệp và các làng nghề gây ô nhiễm môi trường, tại các đô thị lớn, tình trạng ô nhiễm cũng ở mức báo động. Đó là các ô nhiễm về nước thải, rác thải sinh hoạt, rác thải y tế, không khí, tiếng ồn. Những năm gần đây, dân số ở các đô thị tăng nhanh khiến hệ thống cấp thoát nước không đáp ứng nổi và xuống cấp nhanh chóng.
Nước thải, rác thải sinh hoạt (vô cơ và hữu cơ) ở đô thị hầu hết đều trực tiếp xả ra môi trường mà không có bất kỳ một biện pháp xử lí nào ngoài việc vận chuyển đến bãi chôn lấp. Thực trạng về môi trường nông thôn hiện nay ở nước ta. Cùng với quá trình đô thị hóa tăng nhanh, vấn đề môi trường tại các vùng nông thôn cũng đang dần trở nên bức xúc. Có thể kể đến do chất thải rắn n 12 từ các làng nghề và sinh hoạt của người dân.
Hiện cả nước có khoảng 1.