Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa tại Việt Nam mang lại sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng nhưng đồng thời tạo ra sức ép lớn lên hệ thống tài nguyên và môi trường sinh thái. Tại các đô thị đang phát triển, sự gia tăng dân số cơ học cùng với hoạt động sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ đang khiến khối lượng chất thải sinh hoạt, nước thải và khí thải tăng nhanh, vượt quá năng lực xử lý của hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật sẵn có.

Phường Đức Xuân nằm ở vị trí trung tâm hành chính, kinh tế của thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, có tuyến Quốc lộ 3 chạy qua. Quá trình đô thị hóa tại đây diễn ra mạnh mẽ với sự chuyển dịch cơ cấu sang ngành thương mại - dịch vụ và công nghiệp, dẫn tới những nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và suy giảm chất lượng cảnh quan. Xuất phát từ thực tế đó, khóa luận tốt nghiệp "Đánh giá hiện trạng môi trường ở phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn" do sinh viên Đặng Thanh Tùng thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Dư Ngọc Thành tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (chuyên ngành Địa chính môi trường, khóa 2014 – 2018) đã tập trung khảo sát thực địa nhằm làm rõ bức tranh môi trường cơ sở.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:

  1. Mục tiêu tổng quát: Điều tra, đánh giá thực trạng môi trường trên địa bàn phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý, bảo vệ và cải tạo môi trường tại địa phương hiệu quả.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu.
    • Đánh giá thực trạng môi trường tại phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
    • Đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ và cải tạo môi trường phù hợp với điều kiện thực tế trên địa bàn phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.

Yêu cầu nghiên cứu đặt ra là phản ánh trung thực hiện trạng môi trường và nhận thức của người dân địa phương; số liệu thu thập đảm bảo tính đầy đủ, khách quan; các giải pháp và kiến nghị đề xuất phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế - kỹ thuật tại cơ sở.

  • Đối tượng nghiên cứu: Các thành phần môi trường nước, môi trường không khí, rác thải và môi trường sống của con người trên địa bàn nghiên cứu.
  • Phạm vi nghiên cứu: Hiện trạng môi trường xung quanh trên địa bàn phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn (bao gồm 19 tổ dân phố với tổng diện tích tự nhiên 555,38 ha).
  • Thời gian tiến hành: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các định nghĩa học thuật và văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tại thời điểm thực hiện:

  • Khái niệm môi trường: Trích dẫn định nghĩa của Đặng Thị Hồng Phương (2011), định nghĩa của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc (UNESCO), và định nghĩa theo Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 số 55/2014/QH13: "Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật". Tác giả phân tích 5 chức năng cơ bản của môi trường gồm: không gian sống; cung cấp tài nguyên; chứa đựng chất thải; giảm nhẹ tác hại của thiên tai; lưu trữ và cung cấp thông tin.
  • Khái niệm ô nhiễm môi trường: Tiếp cận theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO).
  • Khung quản lý môi trường dựa vào cộng đồng: Vai trò của các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội tại cơ sở (Mặt trận Tổ quốc, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) trong việc vận động, giám sát và duy trì các phong trào tự quản môi trường (phong trào "5 không, 3 sạch", đoạn đường tự quản, ngày thứ Bảy tình nguyện).
  • Hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ đối chiếu:
    • Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 số 55/2014/QH13 (thông qua ngày 23/6/2014).
    • Nghị định số 102/2008/NĐ-CP ngày 15/9/2008 về việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu về tài nguyên và môi trường.
    • Nghị định số 117/2009/NĐ-CP và Nghị định số 179/2013/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
    • Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường.
    • Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 về quản lý chất thải và phế liệu.
    • Các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: QCVN 08/BTNMT (chất lượng nước mặt), QCVN 09/BTNMT (chất lượng nước ngầm), QCVN 05:2009/BTNMT (chất lượng không khí xung quanh) và QCVN 26:2010/BTNMT (quy chuẩn tiếng ồn).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập tài liệu, báo cáo thống kê về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, hiện trạng kinh tế - xã hội, báo cáo quản lý môi trường từ UBND phường Đức Xuân; tài liệu quan trắc và chi ngân sự nghiệp môi trường từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc Kạn; các tài liệu của Ngân hàng Thế giới, Trung tâm Nghiên cứu Môi trường Đại học Yale và Columbia, báo cáo của UNICEF và Bộ Y tế.
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn: Thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi in sẵn. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn trực tiếp tại 80 hộ gia đình phân bố tại 19 tổ dân phố trên địa bàn phường Đức Xuân, đại diện cho 5 nhóm đối tượng nghề nghiệp (cán bộ công nhân viên chức, học sinh - sinh viên, kinh doanh dịch vụ, sản xuất nông nghiệp và lao động tự do). Các nội dung điều tra tập trung vào cảm quan chất lượng không khí, nơi chứa và lượng rác phát sinh, nguồn nước cấp sinh hoạt, loại hình cống thải, kiểu công trình vệ sinh, mức độ tiếp cận thông tin và nhận thức pháp luật môi trường.
  • Phương pháp thống kê và trình bày số liệu: Dữ liệu điều tra sơ cấp và số liệu thứ cấp được nhập liệu, xử lý thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ phần trăm bằng phần mềm Microsoft Word và Microsoft Excel, tổng hợp thành hệ thống bảng biểu để phân tích định lượng.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu bật tính cấp thiết của công tác bảo vệ môi trường trong bối cảnh phát triển kinh tế nhanh chóng tại Việt Nam; khẳng định mối quan hệ tương hỗ hai chiều giữa phát triển kinh tế và chất lượng sống của cư dân đô thị. Phần này xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu (tổng quát và cụ thể), yêu cầu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian (phường Đức Xuân) và thời gian thực hiện (tháng 8/2017 – 12/2017), đồng thời trình bày ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Phần này hệ thống hóa các vấn đề lý luận, cơ sở pháp lý và cơ sở thực tiễn về môi trường trên phạm vi toàn cầu, quốc gia và địa phương:

  • Bối cảnh quốc tế: Trình bày các vấn đề môi trường cấp bách gồm suy giảm diện tích rừng (giảm 40% trong 300 năm qua; hàng năm thải thêm 6 tỷ tấn CO2 vào khí quyển do mất rừng nhiệt đới); mất mát đa dạng sinh học; khan hiếm nước ngọt (nước ngọt sử dụng được chỉ chiếm 0,01% lượng nước Trái Đất); cạn kiệt năng lượng hóa thạch (trữ lượng dầu mỏ và khí đốt ước tính còn khoảng 40-60 năm, than đá khoảng 120 năm); hiện tượng nóng lên toàn cầu (nhiệt độ tăng 0,7°C và kịch bản tăng 1,8°C đến 6,4°C vào năm 2100 theo báo cáo của IPCC); áp lực bùng nổ dân số với mật độ trung bình đất liền là 33 người/km².
  • Bối cảnh đô thị và nông thôn Việt Nam: Trích dẫn các số liệu xếp hạng quốc tế: Việt Nam xếp vị trí 85/163 theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới về hiệu quả bảo vệ môi trường; xếp thứ 123/132 quốc gia về chất lượng không khí theo báo cáo của Đại học Yale và Columbia. Hệ thống cấp nước đô thị thất thoát 30-40% lượng nước, tỷ lệ cấp nước máy ở đô thị loại I đạt 49,2% và loại II đạt 47,1%. Tại khu vực nông thôn, trích dẫn kết quả điều tra của Bộ Y tế và UNICEF (công bố ngày 26/03/2008) cho thấy chỉ có 18% tổng số hộ gia đình có nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn Bộ Y tế (Quyết định 08/2005/QĐ-BYT), tỷ lệ dân cư nông thôn tiếp cận nước máy chỉ đạt 11,7%.
  • Bối cảnh tỉnh Bắc Kạn: Đánh giá ô nhiễm nước mặt cục bộ tại lưu vực sông Cầu và các điểm khai thác mỏ chì, kẽm, vàng, đá (toàn tỉnh có trên 40 điểm khai thác); hiện tượng ô nhiễm dầu loang tại bến thuyền Hồ Ba Bể; ô nhiễm chì nghiêm trọng tại xã Bản Thi (huyện Chợ Đồn) với trên 70% người dân mắc các chứng chóng mặt, buồn nôn, khó thở và hơn 50% mắc bệnh ngoài da. Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại thị xã Bắc Kạn trung bình 12,3 tấn/ngày. Toàn tỉnh phát sinh khoảng 334 tấn chất thải nguy hại trong năm 2009 (có 22 đơn vị được cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải nhưng chưa có đơn vị nào được cấp phép vận chuyển, xử lý chất thải nguy hại). Nguồn kinh phí sự nghiệp môi trường toàn tỉnh năm 2016 là 23.683 triệu đồng (trong đó cấp tỉnh thực hiện 19.183 triệu đồng).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Văn bản làm rõ quy trình tổ chức nghiên cứu:

  • Xác định đối tượng và phạm vi nghiên cứu tại phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn trong thời gian từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2017.
  • Xây dựng 3 nhóm nội dung nghiên cứu: Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội; Đánh giá hiện trạng các thành phần môi trường (không khí, rác thải, cấp thoát nước, vệ sinh); Đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường.
  • Thiết lập quy trình thu thập số liệu thứ cấp, triển khai phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp bằng phiếu hỏi đối với 80 hộ gia đình phân bố tại 19 tổ dân phố thuộc phường, và phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp dữ liệu trên máy tính.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Đây là phần trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn bộ kết quả khảo sát thực tế và phân tích số liệu:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội phường Đức Xuân:

    • Tọa độ và địa giới: Tọa độ địa lý từ 21°58’21” đến 22°30’56” vĩ độ Bắc và từ 104°58’21” đến 105°31’33” kinh độ Đông; diện tích 555,38 ha, gồm 19 tổ dân phố, mật độ dân số trung bình 1.549 người/km². Phía Đông giáp phường Huyền Tụng, phía Tây giáp phường Sông Cầu và phường Phùng Chí Kiên, phía Nam giáp phường Xuất Hóa, phía Bắc giáp phường Minh Khai. Có Quốc lộ 3 chạy qua.
    • Địa hình, khí hậu, thủy văn: Địa hình dốc dần từ Tây sang Đông, độ cao trung bình 150 - 300 m. Nhiệt độ trung bình năm 21,8°C (cao nhất 27,6°C, thấp nhất 14,7°C); độ ẩm trung bình 83%; lượng mưa trung bình năm 1.436 mm (tháng 7, 8, 9 chiếm 80% lượng mưa); số giờ nắng trung bình 1.540 - 1.750 giờ/năm. Mạng lưới thủy văn gồm sông Cầu (chảy qua phường với chiều rộng 40 m, dài 5 km) và suối Bản Áng.
    • Tài nguyên: Đất tự nhiên 555,38 ha (gồm nhóm đất địa thành và đất thủy hành); nước mặt từ sông Cầu và nước ngầm có mực nước trung bình khoảng 8 m; diện tích rừng đạt 390,73 ha (chủ yếu là rừng trồng).
    • Dân số và kinh tế (năm 2017): Dân số đạt 7.234 người với tỷ lệ tăng tự nhiên 0,81%, quy mô hộ bình quân 3,07 người/hộ. Toàn phường có 1.928 lao động (lao động nông nghiệp: 193 người; phi nông nghiệp: 1.735 người). Số hộ nghèo là 104 hộ (chiếm 4,3%). Thu nhập bình quân đầu người đạt 10 triệu đồng/người/năm. Cơ cấu kinh tế năm 2017: Thương mại - dịch vụ chiếm 68% (trên 300 cơ sở); Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng chiếm 26% (khoảng 660 hộ); Nông nghiệp chiếm tỷ trọng nhỏ (diện tích lúa gieo cấy 11,4 ha đạt năng suất 45,5 tạ/ha, diện tích ngô 22 ha đạt năng suất 26 tấn/ha; đàn trâu 98 con, đàn lợn 1.920 con, đàn gia cầm 6.856 con, nuôi trồng thủy sản 2,0 ha).
    • Hạ tầng xã hội: 100% hộ dùng điện lưới quốc gia qua 3 trạm biến thế; mạng viễn thông đạt bình quân 45 máy điện thoại/100 hộ dân; 3 trường học (mầm non, tiểu học, THCS) đều đạt chuẩn quốc gia; trạm y tế có 1 bác sĩ, 1 y sĩ, 1 nữ hộ sinh, 1 dược sĩ và 12 giường bệnh (năm 2017 khám trên 2.000 lượt người, kiểm tra an toàn thực phẩm 186/188 cơ sở).
  2. Hiện trạng môi trường và nhận thức cộng đồng (kết quả điều tra 80 hộ gia đình):

    • Chất lượng môi trường không khí: Đánh giá cảm quan cho thấy có 69/80 hộ (chiếm 86,25%) nhận định không khí có khói, bụi hoặc mùi hôi từ phương tiện giao thông và các cơ sở sản xuất; chỉ có 11/80 hộ (chiếm 13,75%) đánh giá không khí trong lành.
    • Chất thải rắn: 61/80 hộ (76,25%) ký hợp đồng dịch vụ thu gom rác; 19/80 hộ (23,75%) tự mang đổ tại bãi rác chung; không có hộ nào đổ tùy tiện hoặc đào hố rác riêng. Khối lượng rác thải phát sinh hàng ngày: 9 hộ (11,25%) thải <2 kg/ngày; 47 hộ (58,75%) thải từ 2 - 5 kg/ngày; 24 hộ (30,00%) thải >5 kg/ngày. Có 32% người dân cho biết không tái sử dụng chất thải; 68% có tái sử dụng ở mức độ thấp (bán phế liệu giấy, nhựa, kim loại hoặc tận dụng chất thải hữu cơ làm phân bón, rơm rạ làm chất đốt). Phí dịch vụ thu gom rác thải là 5.000 đồng/người/tháng.
    • Nguồn nước sinh hoạt: Có 51/80 hộ (63,75%) sử dụng nước giếng khoan; 28/80 hộ (35,00%) sử dụng nước máy; 1/80 hộ (1,25%) dùng giếng đào; không có hộ nào dùng trực tiếp nước sông, suối, ao hồ.
    • Thoát nước thải: 65/80 hộ (81,25%) có cống thoát nước có nắp đậy; 12/80 hộ (15,00%) sử dụng cống lộ thiên; 3/80 hộ (3,75%) sử dụng hình thức khác; không có hộ nào không có cống thoát nước.
    • Công trình vệ sinh: 68/80 hộ (85,00%) sử dụng nhà vệ sinh tự hoại; 11/80 hộ (13,75%) dùng nhà vệ sinh 2 ngăn; 1/80 hộ (1,25%) còn dùng nhà vệ sinh đất; 100% hộ đều có công trình vệ sinh.
    • Nhận thức pháp luật môi trường theo nghề nghiệp: 62/80 người (77,5%) trả lời có biết về Luật Bảo vệ môi trường; 18/80 người (22,5%) không biết. Tỷ lệ hiểu biết cao nhất ở nhóm cán bộ, công nhân viên chức (16/16 người, chiếm 20% tổng mẫu) và học sinh - sinh viên (14/16 người, chiếm 17,5% tổng mẫu); thấp nhất ở nhóm nông nghiệp (9/16 người biết, còn 7/16 người không biết).
    • Nhận thức ô nhiễm theo trình độ học vấn: 66/80 người (82,5%) nhận biết được các biểu hiện ô nhiễm; 14/80 người (17,5%) không nhận biết được. Nhóm đại học và sau đại học có 34/34 người (100%) hiểu biết về biểu hiện ô nhiễm; nhóm cao đẳng, trung cấp đạt 92,9% (13/14 người); nhóm THPT đạt 78,9% (15/19 người); nhóm tiểu học, THCS đạt 37,5% (3/8 người); nhóm biết đọc biết viết chỉ có 20% (1/5 người) nhận biết được.
    • Đánh giá dịch vụ thu gom rác: 63/80 hộ (78,75%) đánh giá dịch vụ thu gom đạt mức "Tốt"; 7/80 hộ (8,75%) đánh giá "Rất tốt"; 2/80 hộ (2,50%) đánh giá "Chưa tốt"; 8/80 hộ (10,00%) chọn "Khó trả lời".
    • Kênh tiếp nhận thông tin bảo vệ môi trường: 48/80 hộ (60,0%) tiếp nhận qua sách, báo chí, đài phát thanh, tivi, internet; 11/80 hộ (13,8%) qua bạn bè, người xung quanh; 9/80 hộ (11,3%) qua phong trào tuyên truyền cổ động; 8/80 hộ (10,0%) qua cán bộ, chính quyền cơ sở; 4/80 hộ (5,0%) qua cách khác.
    • Mức độ tham gia hoạt động bảo vệ môi trường: 100% hộ dân (80/80 hộ) tham gia dọn vệ sinh ngõ xóm định kỳ; 26/80 hộ (32,5%) tham gia hoạt động tuyên truyền môi trường tại trường học; 21/80 hộ (26,3%) tham gia treo băng rôn, khẩu hiệu; chỉ có 19/80 hộ (23,8%) thực hiện phân loại rác tại nguồn.
  3. Giải pháp bảo vệ môi trường do tác giả đề xuất:

    • Về quản lý nhà nước: Thường xuyên thanh tra, kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường, đề án bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; nâng cao năng lực và bố trí đủ cán bộ chuyên trách công tác môi trường cấp phường; cử cán bộ tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn nghiệp vụ định kỳ.
    • Về tuyên truyền, giáo dục nhận thức: Đa dạng hóa hình thức truyền thông về Luật Bảo vệ môi trường qua hệ thống loa truyền thanh cơ sở, tăng tần suất vào các dịp lễ tết và Ngày Môi trường Thế giới (5/6), Ngày Đa dạng sinh học (22/5); tổ chức các cuộc thi tìm hiểu môi trường; thành lập các tổ tuyên truyền giáo dục môi trường tại cụm dân cư; hướng dẫn nhân dân phân loại rác thải tại nguồn (tận dụng rác hữu cơ ủ phân vi sinh, thu gom vỏ chai lọ để tái sử dụng).

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã lượng hóa toàn diện hiện trạng vệ sinh môi trường hạ tầng và nhận thức xã hội tại phường Đức Xuân thông qua hệ thống số liệu điều tra thực địa:

Chỉ tiêu khảo sát Phân loại / Mức độ Số hộ (n = 80) Tỷ lệ (%)
Cảm quan môi trường không khí Có khói, bụi hoặc mùi hôi 69 86,25
Không khí trong lành 11 13,75
Nơi chứa / Hình thức xả rác Thu theo hợp đồng dịch vụ 61 76,25
Đổ rác ở bãi chung 19 23,75
Hố rác riêng / Đổ tùy nơi 0 0,00
Lượng rác phát sinh mỗi ngày Dưới 2 kg/hộ/ngày 9 11,25
Từ 2 - 5 kg/hộ/ngày 47 58,75
Trên 5 kg/hộ/ngày 24 30,00
Nguồn nước sinh hoạt chính Nước giếng khoan 51 63,75
Nước máy 28 35,00
Nước giếng đào 1 1,25
Hạ tầng thoát nước thải Cống thải có nắp đậy 65 81,25
Cống thải lộ thiên 12 15,00
Hình thức khác 3 3,75
Loại hình nhà vệ sinh Nhà vệ sinh tự hoại 68 85,00
Nhà vệ sinh 2 ngăn 11 13,75
Nhà vệ sinh đất 1 1,25

Số liệu điều tra về nhận thức và hành động của cư dân địa phương được tổng hợp cụ thể:

Nội dung khảo sát nhận thức và hành vi Nhóm phân loại Tỷ lệ tương ứng (%)
Hiểu biết về Luật Bảo vệ môi trường Biết 77,50 (62 hộ)
Không biết 22,50 (18 hộ)
Nhận biết biểu hiện ô nhiễm theo học vấn Đại học, trên đại học 100,0 (34/34 hộ)
Cao đẳng, trung cấp 92,90 (13/14 hộ)
Trung học phổ thông 78,90 (15/19 hộ)
Tiểu học, THCS 37,50 (3/8 hộ)
Biết đọc, biết viết 20,00 (1/5 hộ)
Mức độ tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường Dọn vệ sinh đường phố, ngõ xóm 100,0 (80/80 hộ)
Tuyên truyền tại trường học 32,50 (26/80 hộ)
Treo băng rôn, khẩu hiệu 26,30 (21/80 hộ)
Phân loại rác thải tại nguồn 23,80 (19/80 hộ)

Các giải pháp và đóng góp của đề tài:

  • Hệ thống giải pháp đề xuất: Đề xuất giải pháp tăng cường kiểm tra việc thực hiện cam kết bảo vệ môi trường đối với các hộ kinh doanh và cơ sở tiểu thủ công nghiệp; kiến nghị kiện toàn nhân lực phụ trách địa chính - môi trường cấp phường; đưa ra quy trình tuyên truyền lồng ghép qua hệ thống loa truyền thanh cơ sở và phong trào đoàn thể; thúc đẩy phương pháp phân loại rác hữu cơ tại hộ gia đình để ủ phân sinh học.
  • Đóng góp của khóa luận: Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu sơ cấp thực chứng về hạ tầng vệ sinh môi trường và nhận thức cộng đồng tại phường Đức Xuân trong giai đoạn 2017 – 2018. Kết quả này phản ánh mặt tích cực (tỷ lệ sử dụng cống có nắp đậy đạt 81,25%, nhà vệ sinh tự hoại đạt 85%, tham gia dọn ngõ xóm đạt 100%) bên cạnh những tồn tại kỹ thuật và nhận thức (86,25% bị ảnh hưởng bởi khói bụi giao thông; 63,75% phụ thuộc vào nước ngầm chưa qua kiểm soát chất lượng; tỷ lệ phân loại rác tại nguồn chỉ đạt 23,8%), tạo cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quản lý tài nguyên và môi trường của chính quyền cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do điều kiện và phạm vi nghiên cứu quy định:

  • Phương pháp đánh giá chất lượng môi trường: Toàn bộ dữ liệu về chất lượng môi trường không khí và nguồn nước sinh hoạt trong nghiên cứu được thu thập thông qua phương pháp đánh giá cảm quan và điều tra phỏng vấn nhận thức của người dân, chưa tiến hành lấy mẫu thực địa để phân tích các chỉ tiêu hóa lý, vi sinh tại phòng thí nghiệm (chưa đo đạc các thông số bụi PM, SO2, NO2, tiếng ồn dBA hoặc các chỉ số kim loại nặng, Coliform trong nước ngầm và nước mặt) để đối chiếu trực tiếp với các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN).
  • Giới hạn thời gian và quy mô mẫu: Nghiên cứu được triển khai trong thời gian thực tập tốt nghiệp từ tháng 8/2017 đến tháng 12/2017, chưa theo dõi được sự biến động chất lượng môi trường theo chu kỳ các mùa khác nhau trong năm (đặc biệt là mùa kiệt và mùa lũ của sông Cầu). Quy mô mẫu điều tra dừng lại ở 80 hộ gia đình, mang tính đại diện ngẫu nhiên nhưng còn khiêm tốn so với tổng thể hơn 2.000 hộ dân và 7.234 nhân khẩu trên toàn địa bàn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định:

  • Thực hiện các đợt quan trắc môi trường chuyên sâu, lấy mẫu nước mặt (sông Cầu, suối Bản Áng), nước ngầm (giếng khoan hộ gia đình) và môi trường không khí tại các nút giao Quốc lộ 3 để phân tích đầy đủ các thông số lý hóa theo QCVN 05:2009/BTNMT, QCVN 08/BTNMT và QCVN 09/BTNMT.
  • Mở rộng phạm vi khảo sát xã hội học và nghiên cứu thử nghiệm mô hình kinh tế tuần hoàn, quy trình phân loại và xử lý rác thải hữu cơ tại hộ gia đình trên quy mô toàn thành phố Bắc Kạn.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng sau:

  • Sinh viên chuyên ngành Địa chính môi trường, Quản lý tài nguyên, Khoa học môi trường: Tài liệu cung cấp mẫu hình khóa luận tốt nghiệp thực địa hoàn chỉnh, từ việc thiết kế cấu trúc đề tài, xây dựng khung lý thuyết, trích dẫn văn bản quy phạm pháp luật, đến phương pháp thiết kế phiếu hỏi phỏng vấn xã hội học môi trường tại đô thị miền núi.
  • Cán bộ quản lý môi trường cấp xã, phường và thành phố: Cung cấp tài liệu thực chứng về các thông số hạ tầng vệ sinh môi trường (tỷ lệ dùng giếng khoan, cống thoát nước, nhà vệ sinh, dịch vụ thu gom rác) và tương quan giữa trình độ văn hóa với nhận thức môi trường, hỗ trợ xây dựng kế hoạch quản lý chất thải và tuyên truyền phổ biến pháp luật tại địa bàn đô thị loại III.
  • Nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống ma trận số liệu khảo sát chéo giữa học vấn/nghề nghiệp với mức độ hiểu biết pháp luật môi trường (Bảng 4.7 và 4.8), cùng phương pháp tiếp cận điều tra cảm quan môi trường cơ sở kết hợp dữ liệu thống kê hành chính.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn nước sinh hoạt chính của các hộ dân tại phường Đức Xuân là nguồn nào và chiếm tỷ lệ bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra tại Bảng 4.4 của khóa luận, nguồn nước sinh hoạt chủ yếu của người dân là nước giếng khoan, chiếm tỷ lệ 63,75% (51/80 hộ). Nước máy do hệ thống cấp nước đô thị cung cấp chiếm 35,00% (28/80 hộ), nước giếng đào chiếm 1,25% (1/80 hộ), và 100% người dân không sử dụng trực tiếp nước từ ao, hồ, sông, suối cho sinh hoạt hàng ngày.

2. Đánh giá cảm quan của người dân về chất lượng môi trường không khí tại phường Đức Xuân như thế nào?
Kết quả khảo sát tại Bảng 4.1 ghi nhận có 86,25% số hộ (69/80 hộ) đánh giá không khí nơi sinh sống có khói, bụi hoặc có mùi hôi. Chỉ có 13,75% số hộ (11/80 hộ) đánh giá môi trường không khí trong lành. Nguyên nhân chính được xác định do ảnh hưởng từ các phương tiện giao thông trên tuyến Quốc lộ 3, hoạt động của chợ trung tâm và các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, xí nghiệp chế biến gỗ, cơ khí trên địa bàn.

3. Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh hàng ngày tại mỗi hộ gia đình ở mức nào và công tác thu gom diễn ra ra sao?
Theo Bảng 4.3, phần lớn các hộ gia đình (58,75%, tương ứng 47/80 hộ) phát sinh lượng rác thải từ 2 đến 5 kg/hộ/ngày; 30,00% (24/80 hộ) thải trên 5 kg/hộ/ngày; và 11,25% (9/80 hộ) thải dưới 2 kg/hộ/ngày. Về công tác thu gom (Bảng 4.2), 76,25% hộ gia đình (61/80 hộ) tham gia dịch vụ thu gom rác theo hợp đồng dịch vụ với mức phí 5.000 đồng/người/tháng, 23,75% (19/80 hộ) đổ rác tại bãi rác chung, không có hộ nào xả rác tùy tiện ra môi trường.

4. Nhận thức của người dân địa phương về Luật Bảo vệ môi trường có sự khác biệt như thế nào giữa các nhóm ngành nghề?
Kết quả điều tra tại Bảng 4.7 cho thấy có 77,5% người dân (62/80 người) biết về Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản liên quan. Trong đó, mức độ hiểu biết cao nhất thuộc về nhóm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước (100% người được hỏi đều biết, chiếm 20% tổng mẫu) và học sinh - sinh viên (87,5% người được hỏi biết). Ngược lại, nhóm sản xuất nông nghiệp có mức độ nhận biết thấp nhất, với 43,75% người trả lời không biết về luật (7/16 hộ).

5. Hoạt động bảo vệ môi trường nào được người dân phường Đức Xuân tham gia nhiều nhất và điểm hạn chế lớn nhất trong hành vi cộng đồng là gì?
Theo kết quả tại Bảng 4.11, hoạt động được toàn bộ người dân tham gia tuyệt đối là dọn dẹp vệ sinh đường phố, ngõ xóm định kỳ hàng tháng với tỷ lệ 100% (80/80 hộ). Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất nằm ở khâu phân loại rác thải tại nguồn khi chỉ có 23,8% số người được hỏi (19/80 hộ) thực hiện, trong khi có tới 76,3% số hộ chưa phân loại rác trước khi thải bỏ ra môi trường.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đặng Thanh Tùng đã hoàn thành việc điều tra, tổng hợp và phân tích toàn diện hiện trạng môi trường tự nhiên, hạ tầng kỹ thuật vệ sinh và nhận thức cộng đồng tại phường Đức Xuân, thành phố Bắc Kạn trong giai đoạn 2017 – 2018. Dữ liệu thực nghiệm chỉ ra sự phát triển tương đối đồng bộ về công trình vệ sinh tự hoại và cống thoát nước có nắp đậy, song cũng phản ánh rõ những thách thức về ô nhiễm bụi giao thông, tỷ lệ khai thác nước ngầm tự phát cao và thói quen phân loại rác tại nguồn còn thấp. Các phát hiện định lượng và hệ thống kiến nghị trong đề tài là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn đối với công tác quy hoạch, quản lý tài nguyên và môi trường tại các đô thị miền núi phía Bắc.