Luận Văn Thạc Sĩ: Đánh Giá Hiện Trạng Môi Trường Nước Thải Tại Các Mỏ Than Ở Đông Triều, Quảng Ninh

Luận văn thạc sĩ đánh giá hiện trạng môi trường nước thải tại các mỏ than ở thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, phân tích tác động và đề xuất giải pháp quản lý hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

100
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Hiện trạng môi trường nước thải tại các mỏ than Đông Triều Quảng Ninh

Hiện trạng môi trường nước thải tại các mỏ than Đông Triều, Quảng Ninh đang là vấn đề nghiêm trọng. Các hoạt động khai thác than đã gây ra tình trạng ô nhiễm nước thải với hàm lượng cao các ion kim loại nặng như mangan và sắt. Nước thải mỏ than không được xử lý đúng cách đã ảnh hưởng đến chất lượng nước xung quanh, gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe cộng đồng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng, xử lý nước thải tại các mỏ này chưa đáp ứng được yêu cầu bảo vệ môi trường.

1.1. Tác động của khai thác than đến môi trường nước

Tác động môi trường từ hoạt động khai thác than tại Đông Triều là rõ rệt. Các nước thải độc hại từ mỏ chứa nhiều chất rắn lơ lửng, kim loại nặng và vi sinh vật gây hại. Điều này dẫn đến ô nhiễm nước thải nghiêm trọng, ảnh hưởng đến nguồn nước mặt và nước ngầm. Quản lý môi trường tại các mỏ còn nhiều hạn chế, thiếu hệ thống xử lý nước thải hiệu quả.

1.2. Chất lượng nước thải tại các mỏ than

Chất lượng nước thải tại các mỏ than Đông Triều được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như pH, TSS, hàm lượng kim loại nặng. Kết quả cho thấy, nước thải công nghiệp từ các mỏ vượt quá tiêu chuẩn cho phép, đặc biệt là hàm lượng mangan và sắt. Giám sát môi trường cần được tăng cường để kiểm soát ô nhiễm nước thải và bảo vệ môi trường.

II. Đánh giá và quản lý môi trường nước thải

Đánh giá môi trườngquản lý môi trường là yếu tố then chốt trong việc giảm thiểu ô nhiễm nước thải tại các mỏ than Đông Triều. Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm cần được áp dụng đồng bộ, từ việc cải thiện công nghệ xử lý nước thải đến tăng cường giám sát môi trường. Bảo vệ môi trường cần được ưu tiên trong quá trình khai thác than để đảm bảo phát triển bền vững.

2.1. Biện pháp xử lý nước thải

Các biện pháp xử lý nước thải tại mỏ than Đông Triều cần được cải tiến để đáp ứng tiêu chuẩn môi trường. Hệ thống xử lý nước thải hiện tại chưa đủ hiệu quả trong việc loại bỏ kim loại nặng và chất rắn lơ lửng. Việc áp dụng công nghệ tiên tiến và tăng cường quản lý môi trường là cần thiết để giảm thiểu ô nhiễm nước thải.

2.2. Đề xuất quản lý môi trường

Để cải thiện hiện trạng môi trường, cần có các đề xuất quản lý môi trường cụ thể. Các mỏ than cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ môi trường và đầu tư vào hệ thống xử lý nước thải hiện đại. Giám sát môi trường cần được thực hiện thường xuyên để đảm bảo chất lượng nước đạt tiêu chuẩn.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về hiện trạng môi trường nước thải tại các mỏ than Đông Triều có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học để đánh giá môi trường và đề xuất các giải pháp kiểm soát ô nhiễm. Đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho các đơn vị quản lý môi trường và các nhà hoạch định chính sách.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu làm rõ cơ sở khoa học về tác động môi trường của khai thác than đến nước thải mỏ than. Kết quả nghiên cứu góp phần vào việc phát triển các phương pháp đánh giá hiện trạngxử lý nước thải hiệu quả.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng trong thực tế để cải thiện quản lý môi trường tại các mỏ than Đông Triều. Các biện pháp bảo vệ môi trườngkiểm soát ô nhiễm được đề xuất sẽ giúp giảm thiểu tác động tiêu cực đến chất lượng nước và môi trường sống.

13/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về môi trường - Khái niệm ô nhiễm môi trường: Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam 2014: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật” [19]. Trên thế giới ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng và môi trường đến mức có khả năng gây hại cho sức khỏe con người, đến sự phát triển của sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân gây ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc các tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.

Tuy nhiên môi trưởng chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân trên đạt mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật, vật liệu. - Hoạt động bảo vệ môi trường: Theo khoản 3 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam 2014: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đên môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hổi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”[19]. - Khái niệm tiêu chuẩn môi trường: Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam 2014: “Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý 5 được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường”[19]. - Quy chuẩn kỹ thuật môi trường: Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc để bảo vệ môi trường” [19].

- Khái niệm về nước thải: Nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng. - Nước thải công nghiệp: Là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, khai thác khoáng sản. Đặc điểm của nước thải công nghiệp thường chứa các hóa chất độc hại, kim loại nặng, các chất hữu cơ khó phân hủy sinh học. Ngoài ra nước thải công nghiệp còn phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành công nghiệp khách nhau.

- Nước thải sản xuất trong khai thác khoáng sản: Trong nước thải sản xuất thì người ta chia ra làm hai loại; gồm nước thải sinh hoạt (là do các hoạt động sinh hoạt của con người sinh ra như tắm giặt, ăn uống, vệ sinh) và nước thải công nghiệp (là do các hoạt động sản xuất khai thác than sinh ra như đào lò, nước thải từ bãi thải, nước thải từ kho than, nước thải vệ sinh công nghiệp trên mặt bằng sân công nghiệp, nước phun sương dập bụi, nước rửa xe…) * Khái niệm về ô nhiễm nước Hiến chương Châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho các vật nuôi và các loài hoang dã” 6 - Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật vi sinh vật gây hại kể cả xác chết của chúng. - Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước. Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm người ta có thể phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý. * Khái niệm kim loại nặng Kim loại nặng là những kim loại có khối lượng riêng lớn hơn 5g/cm3 và thông thường chỉ những kim loại hoặc các á kim liên quan đến sự ô nhiễm và độc hại.

Tuy nhiên chúng cũng bao gồm những nguyên tố kim loại cần thiết cho một số sinh vật ở nồng độ thấp (Adriano, 2001) [34]. Kim loại nặng được được chia làm 3 loại: các kim loại độc (Hg, Cr, Pb, Zn, Cu, Ni, Cd, As, Co, Sn,…), những kim loại quý (Pd, Pt, Au, Ag, Ru,…), các kim loại phóng xạ (U, Th, Ra, Am,…). Khối lượng riêng của những kim loại này thông thường lớn hơn 5g/cm3 (Bishop, 2002) [35]. Trong những năm gần đây, ô nhiễm KLN đã thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học vì tính chất bền vững của chúng.

Độc tính của KLN đối với sinh vật liên quan đến cơ chế oxy hóa và độc tính gen. Tác hại của KLN đối với động vật và con người là làm tổn hại hoặc giảm chức năng của hệ thần kinh trung ương, giảm năng lượng sinh học, tổn hại đến cấu trúc của máu, phổi, thận, gan, và các cơ quan khác. Hơn nữa KLN còn làm tăng các tương tác dị ứng và gây nên đột biến gen, cạnh tranh với các kim loại cần thiết trong cơ thể ở các vị trí liên kết sinh hóa và phản ứng như các kháng sinh giới hạn rộng chống lại cả vi khuẩn có lợi và có hại. *Khái niệm quản lý môi trường “Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế, xã hội quốc gia”.

7 Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm: - Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người. - Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo chín nguyên tắc của một xã hội bền vững do Hội nghị Rio 92 đề xuất. Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội. - Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ.

Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư. Một số khái niệm về than * Khoáng sản than Từ hàng trăm năm nay, vấn đề nguồn gốc của than khoáng đã là đối tượng nghiên cứu tổng hợp của các nhà địa chất học, thạch học, cổ thực vật học và địa hoá học. Than chủ yếu do các loại thực vật, đôi khi có chứa một số di tích động vật tạo thành. Sự phong phú và đa dạng của thế giới thực vật đã là những nguyên nhân tạo nên sự đa dạng của thành phần và cấu trúc của các loại than.

Trong quá trình tạo thành than từ thực vật, dưới tác động của quá trình tự nhiên, bị biến đổi dần theo hướng tăng hàm lượng cacbon. Cho nên gọi quá trình tạo thành than là quá trình cacbon hoá. Sự tăng dần hàm lượng cacbon trong vật liệu thực vật bị biến đổi xảy ra liên tục và tạo ra dãy khoáng sản cháy: than bùn - than nâu - than đá - antraxit. * Vỉa than: Vỉa than là nơi tích tụ của than được giới hạn bằng hai mặt tương đối song song nhau, một mặt được gọi là trụ, một mặt được gọi là mái (hay còn gọi là vách).

Vỉa than là một thành viên của trầm tích chứa than, ranh giới của vỉa than và đá vây quanh thường là rõ ràng, chỉ đôi khi mới thấy chuyển tiếp dần qua các loại đá chứa than như sét than, than chứa sét… 8 Tuỳ theo sự có mặt hay không của các lớp đá kẹp trong vỉa than mà người ta chia ra vỉa có cấu trúc phức tạp hay đơn giản. Trong một vỉa than đơn giản hoặc trong một phân vỉa than có thể bao gồm nhiều lớp than thuộc những loại hình nguồn gốc khác nhau. Các bể than có bề dày rất khác nhau, từ vài milimét (mm) tới hàng chục mét (m) thậm chí có khi tới 200 - 300m. Tuỳ theo bề dày người ta chia ra vỉa mỏng (dưới 1,3m), vỉa dày trung bình (1,3 - 3,5m) và vỉa dày (trên 3,5m).

Chiều dài của vỉa than cũng rất khác nhau, từ vài mét, vài chục mét cho tới hàng trăm kilomet. * Mỏ than: Mỏ than là một khu vực của vỏ Trái Đất, ở đó có sự tích tụ tự nhiên của các trầm tích chứa than và các vỉa than. Mỏ than thường có diện tích tương đối nhỏ, thay đổi trong phạm vi vài chục kilomet vuông, ít khi tới vài trăm kilomet vuông. Mỏ có thể là mỏ công nghiệp hay không công nghiệp, tuỳ theo việc khai thác mỏ có lợi về mặt kinh tế hay không.

* Bể than: Bể than đó là một khu vực của vỏ Trái Đất, nằm trong một đơn vị địa kiến tạo lớn, bao gồm nhiều mỏ than có sự phân bố không gian tương đối liên tục và có sự liên quan nhất định về điều kiện thành tạo, kể cả các biến đổi sau này. Kích thước của các bể than thường lớn, có khi đạt tới hàng trăm nghìn km2. Theo mức độ bị phủ của các trầm tích chứa than, người ta chia các bể than làm ba loại: Các bể than ẩn: Trầm tích chứa than hoàn toàn bị các trầm tích không than phủ khớp đều hoặc khớp không đều lên trên. Hoàn toàn không thấy mặt đáy của bể.

Các bể than nửa ẩn: Về cơ bản trầm tích chứa than bị các trầm tích không than phủ lên trên, nhưng một phần của mặt đáy bể vẫn có thể quan sát được. Các bể than hở: Ranh giới của bể trùng với bề mặt lồi ra của bề mặt đáy bể. *Khu vực chứa than: Trong phạm vi của một bể than tuỳ theo điều kiện cấu tạo và hành chính mà người ta chia ra thành các khu vực chứa than. Đó là một nhóm mỏ cùng nằm trong một yếu tố cấu tạo nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh giá hiện trạng môi trường nước thải tại các mỏ than Đông Triều, Quảng Ninh là một tài liệu chuyên sâu phân tích thực trạng ô nhiễm nước thải từ hoạt động khai thác than tại khu vực Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Tài liệu này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về các nguồn gây ô nhiễm mà còn đề xuất các giải pháp quản lý và xử lý nước thải hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà quản lý, nghiên cứu viên và những ai quan tâm đến lĩnh vực môi trường và tài nguyên.

Để mở rộng kiến thức về quản lý nước thải và bảo vệ môi trường, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ đánh giá thực trạng môi trường và đề xuất giải pháp quản lý nước thải sản xuất tại làng miến dong, hoặc Luận văn thạc sĩ tăng cường công tác quản lý bảo vệ tài nguyên nước tại Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ đánh giá chất lượng môi trường bãi chôn lấp chất thải rắn Ngọc Sơn cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các vấn đề môi trường liên quan đến chất thải. Hãy khám phá để có cái nhìn toàn diện hơn!