MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Xã hội ngày càng phát triển, cùng với sự gia tăng nhanh về dân số, tốc độ đô thị hóa ngày càng tăng đã làm tăng sự ô nhiễm nước và môi trường. Nguyên nhân là do sự xả rác thải, nước thải, chất thải từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), công nghiệp, giao thông vận tải, các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người ngày càng tăng mà không được xử lý hoặc xử lý không đúng cách gây ô nhiễm đến nước và môi trường. Do vậy vấn đề làm sao để đảm bảo nước sạch và vệ sinh môi trường là vấn đề cấp thiết diễn ra trên toàn thế giới. Xã Hà Trì là một xã vùng 3 nằm ở phía Nam huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng xã cách trung tâm huyện 29 km, cách trung tâm thành phố 12 km.
Trong những năm qua xã đã có sự đi lên về phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên do do cơ sở vật chất cũng như nhận thức của người dân chưa cao nên môi trường chưa được người dân chú ý đặc biệt là môi trường nước mặt, nhân dân trong xã chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, nhất là trong vấn đề vệ sinh môi trường. Do tập quán từ nhiều đời đã ăn sâu vào tiềm thức người dân nơi đây, nên tình trạng rác thải, nước thải sinh hoạt, chăn nuôi xả ra tràn lan, gây ô nhiễm môi trường xung quanh vẫn tồn tại. Bên cạnh đó, thói quen thả rông gia súc, gia cầm là một trong những nguyên nhân khiến đường làng, ngõ xóm không đảm bảo vệ sinh và mất mỹ quan.
Nguồn nước sinh hoạt luôn có nguy cơ bị ô nhiễm do công tác quản lý công trình cấp nước bất cập và thiếu nhà tiêu hợp vệ sinh ở các khu dân cư. Việc sử n 2 dụng nguồn nước không đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh là nguyên nhân trực tiếp khiến cho nhiều loại dịch bệnh liên quan đến nguồn nước, đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và đời sống của người dân. Nhằm góp phần cải thiện đời sống, nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo môi trường cho người dân nông thôn thì việc đề xuất các giải pháp cải thiện điều kiện vệ sinh môi trường và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội cho người dân là hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực trạng chung của việc sử dụng nguồn nước mặt của người dân tại các huyện vùng núi, để đánh giá được chất lượng của nước sử dụng tại địa phương, đồng thời tìm ra một số giải pháp để đáp ứng nhu cầu đang sử dụng nguồn nước mặt đạt tiêu chuẩn.
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo ThS. Nguyễn Duy Hải, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt tại xã Hà Trì, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng” nhằm điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt tại xã Hà Trì và từ đó đưa ra các giải pháp góp phần giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện chất lượng môi trường nước mặt của xã Hà Trì. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu - Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt tại xã Hà Trì, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
- Xác định nguyên nhân gây suy thoái môi trường nước mặt và các sự cố môi trường nước mặt. - Đề xuất các biện pháp giảm thiểu, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nước mặt trên địa bàn xã Hà Trì, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. Yêu cầu - Đánh giá đúng hiện trạng chất lượng nước mặt tại xã Hà Trì, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng. - Số liệu thu được phản ánh trung thực, khách quan.
- Kết quả phân tích thông số hiện trạng chất lượng nước mặt trên địa bàn xã Hà Trì, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng so sánh với QCVN 08: 2008/BTNMT. - Xác định nguồn và mức độ ảnh hưởng tới chất lượng mặt. - Những kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi với điều kiện ở địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã được học tập và nghiên cứu.
+ Nâng cao nhận thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. + Bổ sung tư liệu cho học tập sau này. + Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường. - Ý nghĩa trong thực tế: + Đưa ra được các đánh giá chung nhất về chất lượng môi trường nước, giúp cho cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có biện pháp thích hợp bảo vệ môi trường.
+ Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo vệ môi trường và kế hoạch cung cấp nước sinh hoạt của xã Hà Trì. + Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho mọi cộng đồng dân cư. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Các khái niệm chung về nƣớc - Khái niệm về tài nguyên nước: Tài nguyên nước là các nguồn nước mà con người sử dụng hoặc có thể sử dụng vào những mục đích khác nhau. Nước được dùng trong các hoạt động nông nghiệp,công nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường. Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt[7]. - Khái niệm nước mặt: Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước.
Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất. - Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lý - hoá học - sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật. Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước ngầm, nước ở các sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí [7]. TCMT: Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường - Dấu hiệu đặc trưng của nước bị ô nhiễm: + Thay đổi tính chất lý học ( độ trong, màu, mùi, nhiệt độ…) + Thay đổi thành phần hóa học ( pH, hàm lượng các chất vô cơ và hữu cơ…) + Lượng oxy hòa tan ( DO) trong nước giảm do các quá trình sinh hóa để oxy hóa các chất bẩn hữu cơ vừa mới thải vào.
n 5 + Các vi sinh vật thay đổi về loài và số lượng. Có xuất hiện các vi trùng gây bệnh. - Các dạng ô nhiễm nước mặt thường gặp: + Ô nhiễm chất hữu cơ: Đó là sự có mặt của các chất tiêu thụ oxy trong nước. Các chỉ tiêu đánh giá ô nhiễm chất hữu cơ là: DO, BOD, COD.
+ Ô nhiễm các chất vô cơ: Có nhiều chất vô cơ gây ô nhiễm môi trường nước, tuy nhiên có một số nhóm điển hình như: Các loại phân bón chất vô cơ (là các hợp chất vô cơ mà thành phần chủ yếu là cacbon, hydro và oxy, ngoài ra chúng còn chứa các nguyên tố vi lượng khác), các khoáng axit, cặn… + Ô nhiễm các chất phú dưỡng: Phú dưỡng là sự gia tăng hàm lượng Nito, Photpho trong nước nhập vào các thủy vực dẫn đến sự tăng trưởng của các thực vật bậc thấp (rong, tảo…). Nó tạo ra những biến đổi trong hệ sinh thái nước, làm giảm lượng oxy trong nước. Do đó làm chất lượng nước bị suy giảm và ô nhiễm. + Ô nhiễm do kim loại nặng và các hóa chất khác: thường gặp trong các thủy vực gần khu công nghiệp, khu vực khai khoáng và các thành phố.
Ô nhiễm kim loại nặng và các chất nguy hại có tác động rất trầm trọng tới hoạt động sống của con người và sinh vật. Chúng chậm phân hủy và sẽ tích lũy theo chuỗi thức ăn vào cơ thể con người và động vật[7]. + Ô nhiễm nguồn nước mặt bởi tàn dư thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học: Trong quá trình sử dụng, một lượng lớn thuốc bảo vệ thực vật và phân bón hóa học bị đẩy vào vực nước ruộng, ao, hồ, đầm…Chúng sẽ lan truyền và tích lũy trong đất, nước và các sản phẩm nông nghiệp[7]. Khái niệm các chỉ tiêu thông số đánh giá 2.
PH Về mặt môi sinh, trong thiên nhiên PH ảnh hưởng đến các hoạt động sinh học trong nước liên quan đến một số đặc tính ăn mòn, hòa tan… chi phối các quá trình xử lý nước như lắng phèn, làm mềm, khử sắt, diệt khuẩn… Vì thế việc xét n 6 nghiệm pH để hoàn chỉnh chất lượng nước cho phù hợp với yêu cầu kỹ thuật trong từng khâu quản lý rất quan trọng và quan trọng hơn nữa là đảm bảo chất lượng cho người tiêu dùng. Oxy hòa tan (DO) DO là yếu tố xác định sự thay đổi xảy ra do vi sinh vật kị khí hay hiếu khí. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất liên quan đến việc kiểm soát ô nhiễm dòng chảy. Ngoài ra DO còn là cơ sở kiểm tra BOD nhằm đánh giá mức ô nhiễm của nước thải sinh hoạt và công nghiệp.Tất cả các quá trình xử lý hiếu khí phụ thuộc vào sự hiện diện của DO trong nước thải, việc xác định DO không thể thiếu vì đó là phương tiện kiểm soát tốc độ sục khí để bảo đảm đủ lượng DO thích hợp cho vi sinh vật hiếu khí phát triển.
Nhu cầu oxy hóa học (COD) Là lượng oxy cần thiết để oxy hóa hoàn toàn chất hữu cơ và một phần nhỏ các chất vô cơ dễ bị oxy hóa có trong nước thải. Chỉ tiêu nhu cầu sinh hóa BOD 5 không đủ để phản ánh khả năng oxy hóa các chất hữu cơ khó bị oxy hóa và các chất vô cơ có thể bị oxy hóa có trong nước thải, nhất là nước thải công nghiệp. Vì vậy, cần phải xác định nhu cầu oxy hóa học để oxy hóa hoàn toàn các chất bẩn có trong nước thải. Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) Là lượng oxy cần thiết cho vi khuẩn sống và hoạt động để oxy hóa các chất hữu cơ có trong nước thải.
BOD được sử dụng rộng rãi trong kỹ thuật môi trường.