Đồ án tốt nghiệp đánh giá hiện trạng môi trường ngành công nghiệp giấy ở khu vực tỉnh đồng nai và đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm

Đồ án tốt nghiệp đánh giá hiện trạng môi trường ngành công nghiệp giấy tại Đồng Nai, đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

đồ án tốt nghiệp

2018

80
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIẤY

1.1. Vài nét về ngành công nghiệp giấy

1.2. Lịch sử hình thành và phát triển

1.3. Hiện trạng sản xuất và tiêu thụ giấy

1.4. Xu thế phát triển công nghệ sản xuất ngành công nghiệp giấy

1.5. Sản phẩm của ngành công nghiệp giấy

1.6. Quy trình sản xuất bột giấy và giấy

1.7. Chuẩn bị nguyên liệu thô

1.8. Sản xuất bột

1.9. Chuẩn bị phối liệu bột

1.10. Khu phụ trợ

1.11. Thu hồi hóa chất

1.12. Vấn đề môi trường phát sinh và phương pháp xử lý trong ngành công nghiệp giấy

1.12.1. Vấn đề môi trường

1.12.2. Phương pháp dùng trong xử lý ô nhiễm môi trường trong ngành giấy

2. CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CỦA CÁC NHÀ MÁY GIẤY TẠI ĐỒNG NAI

2.1. Điều kiện môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực tỉnh Đồng Nai

2.2. Điều kiện môi trường tự nhiên

2.3. Hiện trạng chất lượng môi trường ở Đồng Nai

2.4. Một số biện pháp khắc phục tại tỉnh

2.5. Triển vọng ngành giấy ở tỉnh Đồng Nai

2.6. Công nghệ sản xuất của các nhà máy giấy lựa chọn khảo sát

2.7. Tổng quan về nhà máy giấy Tân Mai

2.8. Hiện trạng môi trường

2.9. Các phương pháp áp dụng trong xử lý nước thải

2.9.1. Các phương pháp hóa lý

2.9.2. Các phương pháp hóa học

2.9.3. Phương pháp sinh học

2.10. Hiện trạng môi trường ngành công nghiệp giấy

2.11. Hiện trạng môi trường nước

2.12. Hiện trạng môi trường không khí

2.13. Hiện trạng môi trường đất và chất thải rắn

2.14. Nguyên nhân tình trạng ô nhiễm môi trường trong ngành giấy

2.14.1. Do bản chất công nghệ sản xuất

2.14.2. Do quy mô nhỏ

2.14.3. Do yếu tố con người và công tác quản lý môi trường

3. CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC Ô NHIỄM TRONG NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIẤY

3.1. Triển khai áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn trong ngành giấy

3.2. Sản xuất giấy tái chế

3.3. Xử lý nước thải công nghiệp giấy bằng công nghệ chảy ngược qua lớp bùn yếm khí (UASB)

3.4. Biện pháp quản lý

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Đánh giá môi trường ngành giấy Đồng Nai

Đánh giá môi trường ngành giấy Đồng Nai là một nghiên cứu quan trọng nhằm xác định tình trạng ô nhiễm và các tác động tiêu cực đến môi trường từ hoạt động sản xuất giấy. Tỉnh Đồng Nai, với nhiều nhà máy giấy lớn, đang đối mặt với các vấn đề môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm nước và không khí. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các nguồn thải, đánh giá mức độ ô nhiễm và đề xuất các giải pháp khắc phục.

1.1. Tình trạng ô nhiễm môi trường

Tình trạng ô nhiễm môi trường tại Đồng Nai được đánh giá qua các chỉ số về chất lượng nước, không khí và đất. Nước thải từ các nhà máy giấy chứa hàm lượng cao các chất hữu cơ, kim loại nặng và chất rắn lơ lửng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái và sức khỏe cộng đồng. Không khí cũng bị ô nhiễm do khí thải từ quá trình đốt nhiên liệu và các hóa chất sử dụng trong sản xuất.

1.2. Tác động của ngành giấy đến môi trường

Tác động của ngành giấy đến môi trường bao gồm việc tiêu thụ lớn tài nguyên nước, phát thải khí độc hại và chất thải rắn. Các nhà máy giấy cũng góp phần vào việc phá rừng và suy thoái đất do nhu cầu nguyên liệu thô. Nghiên cứu chỉ ra rằng, nếu không có biện pháp quản lý hiệu quả, tác động tiêu cực này sẽ tiếp tục gia tăng.

II. Giải pháp khắc phục ô nhiễm

Giải pháp khắc phục ô nhiễm được đề xuất trong nghiên cứu bao gồm việc áp dụng công nghệ sản xuất sạch hơn, quản lý chất thải hiệu quả và tăng cường tái chế giấy. Các biện pháp này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn mang lại lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp.

2.1. Công nghệ sản xuất giấy bền vững

Công nghệ sản xuất giấy bền vững là một trong những giải pháp chính được đề xuất. Việc áp dụng các công nghệ tiên tiến như sản xuất giấy tái chế và xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học sẽ giúp giảm thiểu tác động môi trường. Nghiên cứu cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đầu tư vào các công nghệ thân thiện với môi trường.

2.2. Quản lý chất thải ngành giấy

Quản lý chất thải ngành giấy là yếu tố then chốt trong việc giảm thiểu ô nhiễm. Các biện pháp như phân loại chất thải tại nguồn, tái sử dụng nước thải và xử lý chất thải rắn đúng cách sẽ giúp giảm đáng kể lượng chất thải ra môi trường. Nghiên cứu cũng đề xuất việc tăng cường giám sát và thực thi các quy định về môi trường.

III. Chính sách bảo vệ môi trường

Chính sách bảo vệ môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các giải pháp bền vững cho ngành giấy. Nghiên cứu đề xuất việc xây dựng và thực thi các chính sách môi trường nghiêm ngặt, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn.

3.1. Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm

Các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm bao gồm việc áp dụng các tiêu chuẩn môi trường nghiêm ngặt, tăng cường kiểm tra và giám sát các nhà máy giấy. Nghiên cứu cũng đề xuất việc hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các doanh nghiệp để họ có thể đầu tư vào các công nghệ thân thiện với môi trường.

3.2. Giải pháp bền vững cho ngành giấy

Giải pháp bền vững cho ngành giấy bao gồm việc thúc đẩy sản xuất giấy tái chế, giảm thiểu sử dụng hóa chất độc hại và tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo. Nghiên cứu nhấn mạnh rằng, việc áp dụng các giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành giấy.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CÔNG NGHIỆP GIẤY 1. Vài nét về ngành công nghiệp giấy 1. Lịch sử hình thành và phát triển Ngành giấy là một trong những ngành được hình thành từ rất sớm tại Việt Nam, khoảng năm 284. Từ giai đoạn này đến đầu thế kỷ 20, giấy được làm bằng phương pháp thủ công để phục vụ cho việc ghi chép, làm tranh dân gian, vàng mã… Năm 1912, nhà máy sản xuất bột giấy đầu tiên bằng phương pháp công nghiệp đi vào hoạt động với công suất 4.000 tấn giấy/năm tại Việt Trì.

Trong thập niên 1960, nhiều nhà máy giấy được đầu tư xây dựng nhưng hầu hết đều có công suất nhỏ (dưới 20.000 tấn/năm) như Nhà máy giấy Việt Trì; Nhà máy bột giấy Vạn Điểm; Nhà máy giấy Đồng Nai; Nhà máy giấy Tân Mai. Năm 1975, tổng công suất thiết kế của ngành giấy Việt Nam là 72.000 tấn/năm nhưng do ảnh hưởng của chiến tranh và mất cân đối giữa sản lượng bột giấy và giấy nên sản lượng thực tế chỉ đạt 28. Năm 1982, Nhà máy giấy Bãi Bằng do Chính phủ Thụy Điển tài trợ đã đi vào sản xuất với công suất thiết kế là 53.000 tấn bột giấy/năm và 55.000 tấn giấy/năm, dây chuyền sản xuất khép kín, sử dụng công nghệ cơ-lý và tự động hóa. Nhà máy cũng xây dựng được vùng nguyên liệu, cơ sở hạ tầng, cơ sở phụ trợ như điện, hóa chất và trường đào tạo nghề phục vụ cho hoạt động sản xuất.

Ở Việt Nam công nghiệp giấy còn rất nhỏ bé. Năng lực sản xuất bột giấy đạt khoảng 150 – 170 ngàn tấn/năm, năng suất thiết kế của các cơ sơ sản xuất giấy vào khoảng 250 ngàn tấn/năm. Gần đây sản lượng giấy trong nước đạt khoảng 200 – 250 ngàn tấn/năm, trong đó bột giấy khoảng 120 – 150 ngàn tấn. Lượng bột giấy thiếu hụt được bù đắp bằng việc xử lý giấy cũ và bột nhập khẩu.

Hiện trạng sản xuất và tiêu thụ giấy • Sản xuất Về sản phẩm, ngành đã sản xuất được các loại giấy chủ yếu là : giấy in báo, giấy in, giấy viết, giấy vệ sinh – sinh hoạt, giấy bao bì, giấy vàng mã nội địa và xuất khẩu. Chất lượng giấy nói chung chỉ đạt mức trung bình hoặc dưới trung bình so với khu vực và trên thế giới. Những loại giấy khác (giấy bao bì chất lượng cao, giấy kỹ thuật như : các loại giấy lọc, giấy cách điện, …) được nhập khẩu. Trung bình những năm qua, nước ta nhập khoảng trên dưới 100 SVTH: NGUYỄN THỊ HIẾU 12 Đồ án tốt nghiệp GVHD: GS.TS HOÀNG HƯNG Đánh giá hiện trạng môi trường ngành công nghiệp giấy ở khu vực tỉnh Đồng Nai và đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm.

ngàn tấn giấy các loại mỗi năm. Tính về số giấy sản xuất trong nước thì Việt Nam mỗi năm tiêu thụ gần 300 ngàn, tính theo đầu người đạt xấp xỉ 4 kg/năm. Đây là chỉ số rất quan trọng trong việc đánh giá mức độ phát triển văn hóa. Theo chỉ số này Việt Nam đứng cuối cùng trong khu vực và thuộc loại thấp nhất thế giới.

Các nước phát triển có mức sử dụng giấy tính theo đầu người là 200 – 300 kg /năm, các nước Đông Nam Á cũng đạt 30 – 100 kg/năm. Đặc điểm nổi bật của ngành giấy Việt Nam là rất phân tán. Với tổng sản lượng (trên 200 ngàn tấn/năm) tương đương một xí nghiệp trung bình ở các nước phát triển, ngành giấy Việt Nam có tới hơn 100 cơ sở sản xuất. Qui mô vô cùng đa dạng và phân bố khắp ba miền Bắc, Trung, Nam.

Ngoài ba cơ sở Bãi Bằng, Tân Mai, Đồng Nai có qui mô sản xuất trên 10 ngàn tấn / năm đến 50 ngàn tấn / năm, các cơ sở còn lại có qui mô rất nhỏ, từ vài trăm tấn đến 5000 – 7000 tấn/năm. Số liệu thống kê từ TCTK, chỉ số sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy 2017 tăng 6,3% so với tháng 2016 và tăng 14,5% so với tháng 4/2015. Tính chung chỉ số sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 14,2% so với cùng kỳ năm 2016. • Xuất khẩu Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam, năm 2017 Việt Nam đã xuất khẩu 161,7 triệu USD giấy và sản phẩm từ giấy, tăng 7,1% so với cùng kỳ.

Giấy và sản phẩm từ giấy của Việt Nam đã có mặt tại 17 quốc gia trên thế giới, trong đó Hoa Kỳ là thị trường chủ yếu, chiếm 24%, kế đến là Nhật Bản và Đài Loan chiếm 18%. và các thị trường khác chiếm 23%. SVTH: NGUYỄN THỊ HIẾU 13 Đồ án tốt nghiệp GVHD: GS.TS HOÀNG HƯNG Đánh giá hiện trạng môi trường ngành công nghiệp giấy ở khu vực tỉnh Đồng Nai và đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm. Hoa Kỳ 24% các nước khác 23% Singapore 8% Nhật Bản 18% Campuchia 9% Đài Loan 18% Hình 1.1: Cơ cấu thị trường xuất khẩu giấy và sản phẩm từ giấy 2017 Nguồn: Phòng Thông tin kinh tế quốc tế-VITIC/TCHQ • Nhu cầu sử dụng các sản phẩm giấy trong nước: Theo số liệu từ TCTK, chỉ số sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp trong sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy thời điểm 2017 so với cùng thời điểm tháng trước tăng 4,2% và so với cùng thời điểm năm 2016 tăng 4,4%.

Lượng tiêu thụ bột giấy ở nước ta hàng năm rất lớn nhưng sản xuất bột giấy trong nước chỉ đáp ứng được 37% nhu cầu, còn lại vẫn phải nhập khẩu. Hiện cả nước còn khoảng 35% doanh nghiệp sản xuất giấy nhỏ lẻ, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng và nước, gây ô nhiễm môi trường. Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, năm 2017 Việt Nam đã nhập khẩu 569,2 nghìn tấn giấy các loại, trị giá 456,8 triệu USD, tăng 11,4% về lượng và tăng 6,2% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Ba thị trường chính cung cấp giấy cho Việt Nam gồm có Nga, Trung Quốc và Đài Loan, trong đó Nga là thị trường chủ lực chiếm 30%, kế đến là Trung Quốc 17% và Đài Loan chiếm 12%.

Ngoài ra, còn nhập khẩu từ các thị trường khác, chiếm 21%. SVTH: NGUYỄN THỊ HIẾU 14 Đồ án tốt nghiệp GVHD: GS.TS HOÀNG HƯNG Đánh giá hiện trạng môi trường ngành công nghiệp giấy ở khu vực tỉnh Đồng Nai và đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm. Nga 30% Các nước khác 21% Hàn Quốc 9% Indonesia Trung Quốc 11% 17% Đài Loan 12% Hình 1.2: Cơ cấu thị trường nhập khẩu giấy các loại năm 2017 Nguồn: Phòng Thông tin kinh tế quốc tế-VITIC/TCHQ • Tình hình phát triển và vai trò của ngành giấy đối với nền kinh tế Việt Nam Ngành giấy Việt Nam chuyên sản xuất giấy in báo, in viết, giấy làm bao bì, giấy gia dụng và giấy vàng mã. Hiện tại, sản xuất giấy in báo đã ngưng hoạt động do vấn đề tài chính và khả năng cạnh tranh kém.

Về giấy in viết vẫn tăng trưởng nhưng chậm hơn trước đây, do chúng ta có nhiều phương tiện truyền thông khác. Tăng trưởng mạnh nhất là giấy bao bì và giấy gia dụng. Nguyên nhân là do phục vụ xuất khẩu và nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng cao. Trong năm 2017, toàn ngành giấy sẽ phát triển tốt với tốc độ tăng trưởng khoảng 8% so với năm 2016.

Về xuất khẩu, sản lượng của ngành được dự kiến vẫn như năm trước không có sự tăng trưởng đột biến. Tuy nhiên, ngành giấy xuất khẩu cũng có những điểm mới trong năm 2018 khi bên cạnh các sản phẩm giấy gia dụng, giấy in viết… thì nay đã xuất khẩu giấy bao bì. Xu thế phát triển công nghệ sản xuất ngành công nghiệp giấy Xu thế phát triển công nghệ chủ yếu hiện nay tập trung vào việc hạ giá thành và nâng cao chất lượng bột giấy và giấy. Sử dụng rộng rãi các chất trợ bảo lưu xơ sợi và phụ gia, các chất kết dính tổng hợp rẻ và hiệu quả cao.

Công nghệ xeo giấy trong môi trường kiềm nhẹ cùng với việc thay thế cao lanh bằng cacbonat canxi đang được ứng dụng rộng rãi và có hiệu SVTH: NGUYỄN THỊ HIẾU 15 Đồ án tốt nghiệp GVHD: GS.TS HOÀNG HƯNG Đánh giá hiện trạng môi trường ngành công nghiệp giấy ở khu vực tỉnh Đồng Nai và đề xuất giải pháp khắc phục ô nhiễm. quả kinh tế rõ rệt, góp phần nâng cao chất lượng giấy và giảm ăn mòn thiết bị, chăn xeo, lưới xeo. Tiết kiệm vật tư năng lượng, nâng cao chất lượng và sản lượng, đa dạng hoá sản phẩm, giảm thiểu chất thải. Phát triển công nghệ sản xuất giấy sử dụng nguyên liệu giấy loại, nâng cao chất lượng bột giấy, tăng tỷ trọng thành phần và mặt hàng sản phẩm sản xuất từ giấy loại, giảm chi phí sản xuất, tiết kiệm tài nguyên.

Tập trung hoá việc sản xuất bột giấy ở các nhà máy lớn ở từng khu vực để có điều kiện đầu tư cho hệ thống xử lý chất thải, nâng cao chất lượng bột giấy, hạ giá thành sản phẩm. Các nhà máy nhỏ gần đó có thể sử dụng bột của nhà máy lớn mà không tự sản xuất bột để sản xuất ra các mặt hàng giấy với số lượng không lớn. Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin tự động hoá điều khiển qúa trình công nghệ, vận hành thiết bị, công nghệ sinh học, vật lý chất thải, giám sát chất lượng và quản lí qúa trình sản xuất. Với tốc độ phát triển khá cao của nền kinh tế nước nhà nhu cầu tiêu thụ giấy ngày càng cao và tiếp tục phát triển mạnh định hướng những năm tiếp theo đến năm 2025.

Sản phẩm của ngành công nghiệp giấy Tùy theo mục đích sử dụng khác nhau sản phâm giấy được chia thành 4 nhóm: - Nhóm 1: Giấy dùng cho in, viết (giấy in báo, giấy in và viết… - Nhóm 2: Giấy dùng trong công nghiệp (giấy bao bì, giấy chứa chất lỏng …) - Nhóm 3: Giấy dùng trong gia đình (giấy ăn, giấy vệ sinh…) - Nhóm 4: Giấy dùng cho văn phòng (giấy fax, giấy in hóa đơn…) Hiện nay ở Việt Nam chỉ sản xuất được các loại sản phẩm như giấy in, giấy in báo, giấy bao bì công nghiệp thông thường, giấy vàng mã, giấy vệ sinh chất lượng thấp, giấy tissue chất lượng trung bình… còn các loại giấy và các tông kỹ thuật như giấy kỹ thuật điện-điện tử, giấy sản xuất thuốc lá, giấy in tiền, giấy in tài liệu bảo mật vẫn chưa sản xuất được. Bột giấy Bột giấy là vật liệu dạng xơ sợi, được chế biến từ các loại nguyên liệu thực vật, với mục đích chủ yếu nhằm sản xuất giấy. Bột giấy được dùng để sản xuất những loại sản phẩm khác nhau như giấy viết, giấy bao bì, bìa các- tông, v., Bột giấy đã tẩy trắng sẽ được trộn với các loại bột khác từ giấy phế liệu hoặc bột nhập khẩu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Đánh Giá Hiện Trạng Môi Trường Ngành Giấy Tỉnh Đồng Nai Và Giải Pháp Khắc Phục Ô Nhiễm là một tài liệu quan trọng phân tích thực trạng ô nhiễm môi trường trong ngành giấy tại tỉnh Đồng Nai, đồng thời đề xuất các giải pháp thiết thực để giảm thiểu tác động tiêu cực. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các nguồn gây ô nhiễm, từ nước thải đến khí thải, và đưa ra các biện pháp quản lý, công nghệ xử lý hiệu quả. Đọc giả sẽ hiểu rõ hơn về thách thức môi trường trong ngành công nghiệp giấy và cách thức để hướng tới sản xuất bền vững.

Để mở rộng kiến thức về quản lý môi trường và xử lý chất thải, bạn có thể tham khảo Khóa luận tốt nghiệp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Khoái Châu, Hưng Yên, một nghiên cứu chi tiết về quản lý chất thải rắn. Ngoài ra, Luận văn nghiên cứu tác động sản xuất xốp EPS đến môi trường và giải pháp giảm thiểu cung cấp góc nhìn sâu sắc về tác động môi trường trong sản xuất công nghiệp. Cuối cùng, Đồ án thiết kế mạng lưới cấp thoát nước cho phường Thống Nhất, Biên Hòa là tài liệu hữu ích về quản lý nước thải tại Đồng Nai, liên quan trực tiếp đến chủ đề này.