CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Tổng quan các nghiên cứu 1. Nghiên cứu ngoài nước Vào năm 2011, nghiên cứu mang tên “Khảo sát về việc sử dụng túi nhựa, cách xử lý các tác động xấu đến môi trường: Một trường hợp nghiên cứu trong Thành phố Jimma, Tây Nam Ethipia” được thực hiện bởi Leglie Adane và Diriba Muleta [8]. Nghiên cứu cho thấy chất thải của túi nhựa gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và các vấn đề đến sức khỏe ở người và động vật.
Khó khăn nhất là ở quốc gia có hoàn cảnh khó khăn về kinh tế như Ethiopia. Mục tiêu của khảo sát là để đánh giá việc sử dụng túi nhựa và các tác động môi trường của chúng tại Thành phố Jimma của Ethiopia. Các kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ sử dụng túi nhựa thường xuyên hơn bất kỳ sản phẩm nhựa khác. Nh ưng lý do chính là vì túi nhựa có giá thành thấp và tính tiện dụng sẵn có.
Và hành động sử dụng lãng phí và đổ rác ra các khu vực xung quanh là một thực tế xảy ra hầu hết trên các thành phố. Một vấn đề chính là nguyên nhân gây chết động vật, tắc nghẽn đường ống nước thải, suy giảm vẻ đẹp tự nhiên của môi trường và sức khỏe con người chính là vấn đề đáng quan tâm. Những phát hiện của nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng xu hướng sử dụng túi nhựa đang tăng lên theo thời gian mặc dù nhận thức tốt của người dân về tác dụng phụ của sản phẩm này. Để giảm các vấn đề liên quan đến túi nhựa lãng phí, khuyến cáo giáo dục người dân, không sử dụng túi nhựa và sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường như vật liệu thay thế túi làm từ quần áo, sợi tự nhiên và giấy.
Đặc biệt pháp luật cấp thành phố cũng rất khuyến khích chống sử dụng bừa bãi và xử lý các chất thải túi nhựa cũng như chấm dứt phân phối miễn phí túi nhựa của các nhà bán lẻ. Năm 2013, có một nghiên cứu mang tên “Nghiên cứu về thái độ của sinh viên lớp 8 về việc sử dụng nhựa ở khu vực Gwarko, Balkumari, Lalitpur” của tác giả Elsevier Ltd [10]. Bài nghiên cứu đưa ra một cuộc điều tra thực nghiệm có hệ thống để tìm hiểu việc sử dụng vật liệu nhựa cho học sinh lớp tám. Một phương pháp khảo sát đã được thực hiện với thang đo Likert năm điểm để đo lường thái độ.
Nghiên cứu đã phát triển sự hiểu biết tổng thể về kiến thức đối với hành vi dưới tác động của việc sử dụng nhựa. Khoảng cách giữa kiến thức và hành vi được đặt dưới những thách thức từ việc tích lũy kiến thức, đến xây dựng thái độ và thay đổi hành vi. Chuyển kiến thức sang 4 do an hành vi bị mất một số kiến thức do chế độ và công cụ chuyển giao. Tốc độ chuyển giao kiến thức học thuật rất tốt nhưng quá trình này bị ảnh hưởng bởi các rào cản giáo dục và các yếu tố xã hội khác.
Trong cuộc sống hằng ngày, hầu hết các sản phẩm nhựa đều dễ sử dụng và cực kỳ phổ biến trong các gia đình. Lứa tuổi vị thành niên đã quen với việc sử dụng một số sản phẩm nhựa từ khi còn nhỏ mà không biết tác động tiêu cực của nhựa. Thông qua gia đình, trường học và văn học, khá dễ dàng để có được thông tin, kiến thức liên quan đến nhựa có tác động tiêu cực đến môi trường. Thái độ của việc sử dụng nhựa là gì? Đây là vấn đề nghiên cứu này tìm cách điều tra.
Thái độ phản ánh các tác động học tập đối với hành vi (Greenwald, 1968). Do đó, nếu thái độ thay đổi do giáo dục, thì điều này sẽ chỉ ra rằng hệ thống giáo dục hiện tại ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống của học sinh và suy nghĩ của họ. Để tạo ra một môi trường tốt hơn cho tất cả mọi người, điều quan trọng là phải nhận ra các tác động tiêu cực của nhựa và hạn chế sử dụng các sản phẩm nhựa trong cuộc sống hàng ngày. Nghiên cứu này đã trình bày thái độ của học sinh lớp tám của Nepal về việc sử dụng vật liệu nhựa là trọng tâm chính.
Lý thuyết về hành vi có kế hoạch có chủ đích của Icek Ajzen đưa ra định hướng cho nghiên cứu này. Cũng tương tư như thế vào năm 2018, trong đề nghiên cứu mang tên “Khảo sát về nhận thức và thái độ của công dân về nhựa ô nhiễm ở Hatay/ Samandag Thổ Nhĩ Kỳ” được thực hiên bởi Sedat Gündoğdu và cộng sự [8]. Nghiên cứu đã cho biết được rằng các yếu tố như: nhận thức và thái độ về việc nhựa có hại cho môi trường, ảnh hưởng rất lớn đến việc sử dụng túi nhựa. Theo nghiên cứu, những người dân có mức độ nhận thức cao về ô nhiễm nhựa và họ nhận thức được rằng nhựa có tác động xấu đến cho môi trường.
Tuy nhiên, nó đã xác định rằng những người dân không sẵn s àng chuyển đổi nhận thức của họ để hành động. Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu “Đánh giá ý thức sử dụng túi ni lông của người dân tại thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên của tác giả Đoàn Thị Thảo năm 2009, đánh giá ý thức sử dụng túi ni lông của người bán hàng và người tiêu dùng [3]. Cả thành phố có mức tiêu thụ túi ni lông cao, sử dụng lãng phí, không cần thiết và chưa có dấu hiệu của việc giảm sử dụng. Tính ưu việt của túi ni lông so với các vật liệu túi khác là có độ bền cơ học cao, bền trong môi trường.
Nhận thức của người tiêu dùng về túi ni lông còn hạn chế, nên 5 do an việc sử dụng còn chưa hợp lý. Từ việc đánh giá ý thức sử dụng túi ni lông của người dân, tác giả cũng đưa ra được một số giải pháp về quản lý rác thải ni lông nhằm bảo vệ môi trường hiện tại và tương lai. Có thể thấy, chúng ta luôn bắt gặp túi ni lông vì hầu như bất cứ đồ vật gì mua cũng được đựng vào túi ni lông. Kết quả hành động của xử lý túi ni lông đã sử dụng của người bán hàng là theo thói quen khi người bán hàng sử dụng túi ni lông để đựng hàng cho khách thì theo thói quen khách vẫn cầm và sử dụng.
Nghiên cứu “Thay thế thói quen xã hội trong việc sử dụng túi ni lông bằng túi vải” của nhóm tác giả Hoàng Thị Mai, Lê Thị Thương, Nguyễn Thị Huệ, Hoàng Thị Trúc Quỳnh năm 2013 đã tiến hành thu thập thông tin để biết được tình trạng sử dụng túi ni lông[4]. Sau đó, cho người dân thấy được tác hại của việc sử dụng túi ni lông trong sinh hoạt. Song song đó trình bày được tác hại của túi ni lông, giới thiệu mô hình túi vải trong sinh hoạt và lợi ích khi sử dụng nó. Nghiên cứu cũng đã tìm hiểu và đánh giá được nhận thức của người dân về mức độ cần thiết về việc sử dụng túi vải.
Nhóm nghiên cứu sử dụng lý thuyết xã hội hóa và hành động xã hội của Max Weber nhằm giải thích rõ hơn nữa về hành động của từng các nhân, cũng như hành động xã hội trong việc sử dụng túi vải thay thế túi ni lông. Lý thuyết hành vi khi sử dụng túi ni lông và điều kiện môi trường nào đã làm chuyển hướng hành vi từ sử dụng túi ni lông sang dùng túi vải. Thuyết nhận thức sẽ giúp người dân nhận thức được về những tác hại mà túi ni lông mang lại, đồng thời giúp họ nhận thức được tầm quan trọng của túi vải trong việc bảo vệ môi trường, từ đó hình thành thói quen sử dụng túi vải trong sinh hoạt. Nghiên cứu “Khảo sát hiện trạng chất thải nhựa tại Việt Nam” của Ths.
Trần Thu Hương – Cán bộ kỹ thuật cấp cao [3], WWF – Việt Nam ( WWF là tên viết tắt của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên hay còn biết với các tên gọi Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Thế giới hay Quỹ Bảo vệ Thiên nhiên Toàn Cầu. Tên đầy đủ tiếng anh là World Wide Fund For Nature. Tiền thân là Quỹ bảo vệ động vật hoang dã thế giới – World Wildlife Fund. Đây là một tổ chức phi chính phủ quốc tế đầu tiên hoạt động ở Việt Nam.
Theo như nghiên cứu thì rác nhựa bị thải ra môi trường phần lớn đến từ Châu Á. Trung Quốc, Philipine và Việt Nam là những nước đứng đầu danh sách thải nhựa. WWF mong muốn xây dựng dự án thí điểm tại 5 nước Đông Nam Á từ đó xây dựng mạng lưới đô thị giảm nhựa trên toàn cầu.WWF đã xây dựng một cổng thông tin về các đô thị trong mang lưới và mời các thành phố tham gia bằng các thể hiện cam kết giảm thiểu nhựa của họ. Nghiên cứu được thực hiện dựa trên nền tảng các lý thuyết và mô hình: Khung lý thuyết của 6 do an Han Bresser về đánh giá hệ thống quản lý chất thải rắn, chất thải nhựa, sử dụng khung đánh giá tính phù hợp của các tỉnh/thành với dự án đô thị giảm nhựa của WWF.
Sử dụng khung DPSIR kết hợp với tính toán dòng chất thải (MFA). Tổng quan về rác thải nhựa Hiện nay vấn đề chất thải nhựa đang là mối quan tâm của toàn thế giới trong đó có Việt Nam. Rác thải nhựa gây ảnh hưởng trầm trọng đến môi trường đe dọa đến sự phát triển bền vững, ảnh hưởng đến đời sống xã hội. Rác thải nhựa là những chất khó phân hủy trong nhiều môi trường, phải mất hàng trăm năm hoặc cả nghìn năm thì chất thải từ nhựa mới có thể phân hủy hoàn toàn.
Chúng gây ảnh hưởng đến quá trình sinh sống và phát triển của động thực vật, làm ô nhiễm môi trường sống của con người, gây mất cảnh quan, làm thu hẹp diện tích sống …Theo đánh giá của Liên Hợp Quốc, ước tính mỗi năm lượng rác thải nhựa do con người thải ra phủ kín 4 lần diện tích bề mặt trái đất. Mỗi năm có đến 8 triệu tấn rác thải nhựa trôi ra các đại dương. Đến năm 2030 có khoảng 300 triệu tấn rác thải trong đại dương, và có trên 240 loài sinh vật biển bị vướng phải rác thải nhựa hoặc ăn phải rác thải nhựa. Hiện có 05 quốc gia có rác thải nhựa lớn nhất thế giới là Trung Quốc, Indonesia, Philippin, Việt Nam và Thái Lan, chiếm 55-60% tổng lượng rác thải nhựa ra đại dương [15].
Sự gia tăng dân số và phát triển kinh tế nhanh gây nên một áp lực lớn đến môi trường thành phố Hồ Chí Minh.