Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học Việc áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường tại các KCN theo hướng TTMT sẽ gắn liền với nhu cầu hoàn thiện hệ thống quản lý môi trường theo yêu cầu của phát triển bền vững, trong đó TTMT như nền tảng đạo đức và đạo lý xã hội được quy định tương ứng trong các cơ sở pháp lý và quản lý xã hội, mà như vậy sẽ kéo theo sự hoàn thiện cần thiết nền tảng xã hội theo hướng tiến bộ và văn minh. Trong xu hướng này, sẽ cần thiết phải có cơ sở pháp lý hai chiều cứng và mềm bao gồm pháp luật, cơ chế chính sách, chiến lược, kế hoạch hành động, giải pháp, biện pháp.
Các mô hình quản lý môi trường tiên tiến, linh hoạt và mềm dẻo, mà khi áp dụng cho các KCN tập trung, thì sự tiếp cận theo hướng trở lại sẽ đòi hỏi các KCN tập trung phải thực hiện các trương trình hoàn thiện hệ thống quản lý môi trường theo tiêu chí TTMT như một nội dung cơ bản cần thực hiện để đạt được tiêu chuẩn TTMT tối thiểu và ngày càng cao hơn cho KCN tập trung hiện nay [12]. Các KCN này tất yếu sẽ phải tổ chức thực hiện chương trình phát triển khoa học-công nghệ cần thiết tại KCN như việc hoàn thành các giải pháp công nghệ kiểm soát và xử lý ô nhiễm, áp dụng các giải pháp sản xuất sạch hơn, các giải pháp sinh thái môi trường và sinh thái công nghiệp nhằm đảm bảo tiêu chuẩn môi trường nhà nước và đạt được các phân loại TTMT ngày càng cao. Các KCN tập trung được hình thành, xây dựng và phát triển lâu dài trong điều kiện cụ thể của quá trình CNH-HĐH ở nước ta, sẽ cần phải áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường theo hướng TTMT và tiến đến mô hình KCN xanh- sạch-đẹp và KCN sinh thái trong tương tai. Như vậy, mô hình KCN TTMT có các cơ sở khoa học vững chắc và thực sự là mô hình tổ chức KCN tiên tiến kết hợp hài hòa giữa mô hình quản lý n 6 TTMT, mô hình khoa học-công nghệ cao và TTMT, cũng như mô hình tổ chức vận hành sản xuất kinh doanh TTMT cho việc xây dựng thành công và phát triển hiệu quả, ổn định, bền vững của các KCN tập trung.
Cơ sở pháp lý Mặc dù khái niệm và tiêu chí mô hình KCN TTMT mới chỉ trong giai đoạn nghiên cứu ứng dụng thực tiễn ở nước ta, song xét theo các nội dung trong Luật BVMT năm 2005 cũng như các nghị định hướng dẫn thi hành Luật BVMT, chiến lược và kế hoạch hành động BVMT quốc gia của Chính phủ và các văn bản dưới luật liên quan đến hướng dẫn tổ chức thực hiện Luật BVMT, thì có thể khẳng định rằng khái niệm, tiêu chí và môi hình KCN TTMT đã được nhà nước ta quan tâm và đưa ra một số quy định, cơ sở pháp lý và quản lý ban đầu khá đầy đủ cho việc tổ chức triển khai trong thực tiễn ở nước ta hiện nay. Luật BVMT đã quy định rất chặt chẽ về nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với môi trường, nhiệm vụ phòng ngừa, kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường, khắc phục, cải tạo suy thoái và sự cố môi trường, đồng thời khuyến khích việc ứng dụng công nghệ sạch và tiên tiến trong sản xuất, tiêu dùng và công tác BVMT nhằm đảm bảo phát triển bền vững kinh tế-xã hội. Trong thời gian này, các văn bản pháp quy của Nhà nước, các quy chuẩn, tiêu chuẩn của nhà nước và các tài liệu khoa học còn sử dụng khái niệm và tiêu chuẩn TTMT cụ thể cho các lĩnh vực công nghệ, nguyên liệu, sản phẩm, văn hóa và nếp sống xã hội. Dưới đây là một số văn bản quy định trong lĩnh vực bảo vệ môi trường của Việt Nam: - Luật Bảo vệ môi trường số 25/2005/QH11, ngày 29/11/2005 của Quốc hội khóa XI; - Luật Đa dạng sinh học số 20/2008/QH12, ngày 13/11/2008 của Quốc hội khóa XII; - Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15/11/2004 của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; - Nghị định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09/8/2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; n 7 - Nghị định số 65/2010/NĐ-CP ngày 11/6/2010 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh hoc; - Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; - Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; - Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam); - Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển các Khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
- Chiến lược Bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 được ban hành theo Quyết định số 262/2003/QĐ-TTg ngày 02/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ; - Nghị quyết số 22/NQ-TU ngày 24/3/2005 của Ban Thường vụ Thành ủy về công tác bảo vệ môi trường thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố đến năm 2010, định hướng đến năm 2020; - Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT về Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường; - Thông thư số 10/2009/TT-BTNMT nhày 11/8/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Bộ chỉ thị môi trường quốc gia đối với môi trường không khí, nước mặt lục địa, nước biển ven bờ; - Thông tư số 93/2010/TT-BTNMT ngày 16/12/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; n 8 - Thông tư số 41/2010/TT-BTNMT ngày 28/12/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường; - Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại; Và nhiều văn bản pháp quy, văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành pháp luật bảo vệ môi trường khác có liên quan. Khái niệm về Khu công nghiệp thân thiện môi trường 1. Khái niệm Khái niệm KCN thân thiện môi trường hay còn gọi là KCN sinh thái được hai nhà khoa học người Mỹ là Frosch và Gallopoupos đề xuất vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX. KCN sinh thái hình thành trên cơ sở Sinh thái học Công nghiệp (STHCN), sản xuất sạch, quy hoạch, kiến trúc và xây dựng bền vững, tiết kiệm năng lượng và hợp tác các doanh nghiệp (DN).
Như vậy, KCN thân thiện môi trường-KCNST là một “cộng đồng” các doanh nghiệp sản xuất và dịch vụ có mối liên hệ mật thiết trên cùng một lợi ích: hướng tới một hoạt động mang tính xã hội, kinh tế và môi trường chất lượng cao, thông qua sự hợp tác trong việc quản lý các vấn đề về môi trường và nguồn tài nguyên. Bằng các hoạt động hợp tác chặt chẽ với nhau, “cộng đồng” KCNST sẽ đạt được một hiệu quả tổng thể lớn hơn nhiều so với tổng các hiệu quả mà từng doanh nghiệp hoạt động riêng lẻ gộp lại [13]. Ở Việt Nam, KCN TTMT là các KCN thực hiện nghiêm chỉnh Luật Bảo vệ môi trường trong quá trình xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng và hoạt động; có hình thành tổ chức bộ máy QLMT trong nội bộ KCN, áp dụng thành công và được cấp chứng chỉ ISO 14001 về QLMT, hoạt động có hiệu quả và chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường. Trong giai đoạn xây dựng, KCN TTMT là các KCN có quy hoạch, thiết kế và xây dựng các khu chức năng, các hệ thống cơ sở hạ tầng theo nguyên tắc tiết kiệm nguyên liệu, nhiên liệu và trao đổi chất thải, phối hợp xử lý chất thải giữa các doanh nghiệp trong KCN.
Trong giai đoạn hoạt động, KCN TTMT phải áp dụng các giải pháp tái sinh, tái chế, tái sử dụng chất thải, có n 9 quá trình trao đổi chất thải, nước thải, năng lượng giữa các nhà máy trong KCN, tham gia và có đóng góp tích cực vào các chương trình nâng cao nhận thức cộng đồng, BVMT cộng đồng. KCN TTMT là các KCN hoạt động có hiệu quả kinh tế- xã hội-môi trường, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Đặc điểm của KCN thân thiện với môi trường KCN thân thiện môi trường hay còn được gọi là khu công nghiệp xanh hay công nghiệp sinh thái là khu công nghiệp được vận hành tối ưu nhằm tận dụng tối đa nguồn lực để sản sinh ra những sản phẩm có ích cho xã hội, đồng thời qua đó giảm tối đa lượng chất thải phát sinh. Để tiến tới một nền công nghiệp xanh, ngành công nghiệp cần phải chuyển từ tư duy sản xuất công nghiệp truyền thống dựa trên hệ thống sản xuất mở trong đó quá trình sản xuất công nghiệp sử dụng nguyên nhiên vật liệu khai thác từ tự nhiên sản xuất ra sản phẩm, đồng thời, chất thải được thải ra môi trường sang hệ thống sản xuất công nghiệp kín, trong đó, các quá trình sản xuất sử dụng lại chất thải ở mức tối đa, lượng chất thải còn lại được xử lý trước khi quay vòng lại sản xuất hoặc thải ra môi trường.
Hệ thống sản xuất công nghiệp kín có thể được diễn ra ở cả cấp độ cơ sở sản xuất, khu cụm và cao hơn nữa trên quy mô toàn ngành. Tại cơ sở sản xuất, doanh nghiệp "xanh hoá" thông qua việc tiếp cận các phương thức quản lý, sản xuất mới như thiết kế xanh, sản xuất sạch hơn, tiết kiệm năng lượng, hệ thống quản lý môi trường, quay vòng tái chế chất thải, quản lý ô nhiễm cuối đường ống, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, sử dụng năng lượng tái tạo. Các phương thức quản lý, sản xuất mới có thể được tiến hành độc lập hoặc lý tưởng hơn kết hợp với nhau. Đối với khu công nghiệp, các khái niệm khu công nghiệp sinh thái, khu công nghiệp thân thiện môi trường, khu công nghiệp hài hoà an sinh xã hội và môi trường đã lần lượt xuất hiện và được ứng dụng trên thực tế.