Chương 1: TÓNG QUAN TÀI LIỆU. Hệ thống chống nhiễm khuẩn bệnh viện. Nhiễm khuẩn bệnh viện. Hệ thống chống nhiễm khuẩn bệnh viện.
Hệ thống kiểm soát. Hệ thống chống nhiễm khuẩn bệnh viện. Chức năng và tổ chức của hệ thống. Nhân lực và trang thiết bị.
Đặc điểm hệ thống chống nhiễm khuẩn. Các biến số, tiêu chuẩn đánh giá hoạt đ. Các biển số trong nghiên cứu:. Phương pháp khử khuẩn và tiệt khuẩn.
Phân loại chất thải y tế. Phân loại bệnh viện. 20 Chương 2: ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯU. Đối tượng nghiên cứu:.
Thời gian vả địa điếm nghiên cửu. Thiết kế nghiên cứu. Mau nghiên cứu. Phương pháp thu thập số liệu.
Thông tin chung về bệnh viện được điều tra. Tổ chức, hoạt động chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện. Bảng chấm điểm công tác chống nhiễm khuẩn tại bệnh viện. Xử lý số liệu.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu. Hạn chế của nghiên cứu, biện pháp khắc phục.29 Chương 3: KÉT QUẢ. Đặc điểm phân tuyến và hạng. Đặc điểm cơ cấu tổ chúc.
Đặc điểm và hoạt động kiểm soát nhiễm khuẩn. Đặc điểm cơ sở vật chất TTTT. Đặc điểm cơ sở vật chất. Cơ sở vật chất.
Đánh giá thực trạng. 45 Chương 4: Bàn luận. 56 Tài liệu tham khảo. 59 Phiếu điều tra.
59 3 DANH MỤC BẢNG Bảng 3. Phân loại Bệnh viện theo tuyến và hạng. Các hoạt động chuyên môn theo hạng của bệnh viện. Cơ cấu tổ chức hệ thống chống nhiễm khuẩn bệnh viện.
Số Nhân lực của bệnh viện và của hệ thống CNK. Giám sát dịch tễ học nhiễm khuẩn bệnh viện.6: Phối hợp xét nghiệm nuôi cấy vi sinh.7: Huấn luyện đào tạo và chỉ đạo tuyến.8: Hoạt động xử lý dụng cụ phục vụ chuyên môn.10 : Đặc điếm thiết kế xây dựng Trung tâm tiệt trùng.11 :Đặc điểm thực hành thu gom, xử lý và cấp phát dụng cụ.12: Cơ sở vật chất trung tâm tiệt trùng.13: Các loại hoá chất khử khuẩn dùng tại Khoa/tổ chống nhiễm khuẩn.14: Cơ sở vật chất và thiết kế kỹ thuật Nhà giặt.15: số lượng máy giặt máy sẩy của nhà giặt.16: Thu gom, xử lý và cung cấp đồ vải.17: Cơ sở hạ tầng, phương tiện và cách xử lý chất rắn.18: Cơ sở hạ tầng và xử lý chẩt thải lỏng y tế.19: Những điều kiện thuận lợi của bệnh viện.20: Thực hiện chuyên môn cùa bệnh viện.21: Những khó khăn và tồn tại của bệnh viện. 46 TÓM TẤT NGHIÊN cứu Các nhiễm khuẩn mắc phải trong bệnh viện đã làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng điều trị và chăm sóc người bệnh, tăng nguy cơ từ vong, tăng chi phí điều trị và làm giảm uy tín bệnh viện. Trên the giới, hoạt động chống nhiễm khuẩn đã được quan tâm từ thế kỷ XIX.
Tại Việt Nam, công tác chống nhiễm khuẩn chính thức được quan tâm từ năm 1997, thông qua việc ban hành hàng loạt các quy định, quy chế và xây đựng hệ thống chóng nhiễm khuẩn. Do vậy cần thiết phải có sự đánh giá lại về hệ thống CNK sau 10 năm vận hành. Nghiên cứu được xây dựng dưới dạng điều tra cắt ngang nhằm: "Nghiên cứu thực trạng hệ thống chống nhiễm khuẩn tại các bệnh viện công lập trên địa bàn quận Đống Đa năm 2007". Mô tả thực trạng cơ cấu tổ chức và hoạt động của hệ thống chổng nhiễm khuẩn tại các bệnh viện công lập ưên địa bàn quận Đổng Đa, thành phổ Hà Nội.
Bước đầu đề xuất mô hình hệ thống chống nhiễm khuẩn cho các bệnh viện trên địa bàn Hà Nội 2007. Đốỉ tượng: Trưởng khoa CNK, người phụ trách tổ chức CNK, cán bộ khối chức năng. Phương pháp: Điều tra mô tả cắt ngang. Kết quả nghiên cứu: 5 bệnh viện tuyển trung ương, 2 bệnh viện thành phố, 1 bệnh viện nghành; 6/8 bệnh viện có khoa CNK, 8/8 bệnh viện có hội đồng CNK, 8/8 bệnh viện có hội đồng CNK, 4/8 bệnh viện điều tra tỳ lệ nhiễm khuẩn hiện mắc; 6/8 bệnh viện điều tra nhiễm khuẩn mới mắc; 8/8 bệnh viện sử dụng băng chỉ thị màu để theo dõi dụng cụ sau tiệt khuẩn; 0/8 bệnh viện sử dụng test sinh hoả để đánh giá chất lượng tiệt khuẩn; 7/8 bệnh viện phụ trách đơn vị tiệt khuẩn; 8/8 bệnh viện xây dựng hướng dẫn vệ sinh CNK; 4/8 bệnh viện có trung tâm tiệt trùng thiết kế một chiều; 3/8 bệnh viện nhận và xử lý dụng cụ bẩn tập trung; 4/8 bệnh viện khoa CNK 5 trả dụng cụ tiệt trùng tại các khoa; hầu hết các bệnh viện đều sử dụng hoá chất khử khuẩn như cloramin B 0,5-1%, cồn 70°, Javen, Presept.; 6/8 bệnh viện có nhà giặt thiết kế một chiều; 8/8 bệnh viện sử dụng nước máy để giặt đồ vải; 8/8 bệnh viện thuê công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển, tiêu huỷ chất thải y tể; 8/8 bệnh viện có nhà chứa rác thải y tế và rác thải sinh hoạt riêng biệt; 5/8 bệnh viện có hệ thong xử lý nước thải sinh hoạt.
Kết luận: 2/8 bệnh viện chưa có hệ thống CNK theo quy chế của Bộ Y tế; các hoạt động truyền thong về CNK như khử khuẩn, tiệt khuẩn được thực hiện tốt tại các bệnh viện; khoa CNK giữ vai trò chủ trì về chuyên môn liên quan đến mọi hoạt động kiểm soát NKB V. Kiến nghị: Bộ Y tế cần sớm tổ chức điều tra về thực trạng hệ thống CNK các bệnh viện trên toàn quốc. 6 ĐẶT VÁN ĐÈ Chóng nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) được bắt đầu từ giữa thập kỳ đầu tiên của thế kỷ XIX Khi Ignaz Philip Semelweis, một bác sĩ sản khoa người Hungari nhận thấy có những đợt dịch sốt hậu sản xảy ra trên những sản phụ sau sinh, chính ông là người nhận thấy có mối liên quan giữa việc rửa tay của những nhân viên đỡ đẻ với những cái chết hậu sản (trích từ [1]). Từ đó ông đã đề xuất biện pháp rửa tay trước khi đỡ đẻ, biện pháp này đã làm giảm hẳn sốt hậu sản.
Sau ông có nhiều nhà khoa học như Florence Nightingale, Josep Lester, Lauis Pasteur , (trích từ [1]). là những nhà khoa học đã đưa ra ứng dụng vệ sinh y tế và kỹ thuật vô khuẩn vào hoạt động của bệnh viện. Tuy nhiên, việc tiến hành chống NKBV chỉ thực sự bắt đầu từ khi một loạt các vụ dịch nhiễm tụ cầu vàng xảy ra tại các bệnh viện ở Bắc Mỹ và ở Vương Quốc Anh trong những nãm 50 của thế kỷ XX (trích từ [1 ] [2]). Để giải quyết những vụ dịch này, các tổ chức chăm sóc sức khoẻ, gồm cả Hiệp hội các bệnh viện Hoa Kỳ (AHA), đã khởi xướng những chương trình giám sát và chống nhiễm khuẩn.
Ngày nay, sau hơn 50 năm, những chương trình này được đưa vào thực hiện thường quy ở các bệnh viện Tây bán cầu và được công nhận là những yếu tố quan trọng để đảm bảo chăm sóc sức khoẻ người bệnh. Tại Châu Á, mức độ triển khai thực hành chống NKBV giữa các quốc gia còn rất khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tể và chính sách y tế của mỗi nước[19]. Nhưng nhìn chung, quá trình thực hành chống NKBV vẫn phát triển rất mạnh mẽ và chủ động ở nhiều nước trong khu vực như: Singapor, Hong Kong [19]. NKBV có tác động rất lớn đen quá trình điều trị bệnh nhân như làm tăng tần suất mắc bệnh, tăng chi phí điều trị, tăng thời gian nằm viện, tăng tỷ lệ tử vong.
Ngoài ra, nhiễm khuẩn bệnh viện còn làm tăng khả năng phát sinh các dòng vi khuẩn kháng kháng sinh. NKBV ngày nay đã trở thành một thách thức lớn đối với nhân loại mang tính thời đại và tính toàn cầu. Theo thống kê cùa hệ thống quốc gia về giám sát NKBV (National Nosocomial Infection Surveillance Systems: NNISS) thuộc Trung Tâm kiểm soát bệnh Hoa kỳ 7 (Centers for Disease Control: CDC): NKBV xảy ra trên 5% bệnh nhân nhập viện,thay đổi từ 5- 15% tuỳ theo loại bệnh. Tỷ lệ nảy cao hơn ở những người bệnh bị phẫu thuật cũng như người bệnh ở Khoa Điều trị tích cực.
Nhiễm khuẩn bệnh viện còn làm gia tăng thời gian nằm viện trung bình của người bệnh (trung bình từ 4-8 ngày) và chi phí cho mỗi bệnh nhân nằm điều trị có nhiễm khuẩn từ 1000 - 8000 USD. Nhiễm khuẩn bệnh viện là nguyên nhân gây ra 19.000 ca tử vong mỗi năm ở Mỹ [18]. Tại Việt nam, công tác chống nhiễm khuẩn bệnh viện đã có từ khá sớm, nhưng chưa được tổ chức thành một lĩnh vực có tính chất chuyên môn riêng, mà nằm tản mạn trong một so tổ chức chuyên môn khác [11]. Từ năm 1997, Bộ Y tế chính thức ban hành quy chế chổng nhiễm khuẩn vào trong quy chế bệnh viện và thành lập khoa Chống nhiễm khuẩn trong hệ thống tổ chức của các Bệnh viện [9], từ đó công tác chống nhiễm khuẩn mới thực sự được các Bệnh viện ở nước ta quan tâm.
Sau gần 10 năm triển khai chỉ thị của Bộ Y tế về xây dựng hệ thống chống nhiễm khuẩn bệnh viện, trên toàn quốc gần 94% các Bệnh viện Trung ương có khoa Chống nhiễm khuẩn [4].Tuy nhiên, để đánh giá hiệu quả hoạt động của khoa Chống nhiễm khuẩn, cho đen thời điểm này chưa có một nghiên cứu khoa học nào đánh giá đầy đủ thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật, nguồn nhân lực cũng như quy chế hoạt động của hệ thống chống nhiễm khuẩn bệnh viện Việt nam. Với ý tưởng đó, đây là một nghiên cứu ban đầu về thực trạng hệ thống chổng nhiễm khuẩn bệnh viện trên một địa bàn tuy hẹp (tại các bệnh viện của Quận Đống đa ), nhưng mang đầy đủ tính đặc trưng về tình trạng CNKBV hiện nay ở các tuyến bệnh viện khác nhau và hy vọng góp phàn cung cấp những thông tin tham khảo để đánh giá toàn bộ hệ thống chống nhiễm khuẩn bệnh viện nước ta. Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi tiến hành “ Nghiên cửu thực trạng hệ thống chống nhiễm khuẩn tại các bệnh viện công lập trên địa bàn quận Đống Đa năm 2007" với hy vọng cung cấp những thông tin cơ bản về hệ thống chống nhiễm khuẩn bệnh viện tại các bệnh viện thuộc địa bàn này. 8 MỤC TIÊU NGHIÊN cứu Mục tiêu chung: Khảo sát thực trạng hệ thống chống nhiễm khuẩn tại các bệnh viện công lập trên địa bàn quận Đống Đa năm 2007.
Mục tiêu cụ thể 1. Mô tả thực trạng cơ cấu tổ chức và hoạt động của hệ thống chống nhiễm khuẩn tại các bệnh viện công lập trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội năm 2007. Bước đầu đề xuất mô hình hệ thống chống nhiễm khuẩn cho các bệnh viện trên địa bàn Hà Nội năm 2007. 9 Chuông1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
HỆ THÔNG CHÓNG NHIÉM KHUẨN BỆNH VIỆN 1.