Chương 1: Tổng quan về giao đất, cho thuê đất Chương 2: Đánh giá tình hình giao đất, cho thuê đất và tình hình sử dụng đất của đối với tổ chức kinh tế trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm giải quyết tồn tại, bất cập về tình hình giao đất, cho thuê đất đối với tổ chức kinh tế 4 z CHƢƠNG I TỔNG QUAN VỀ GIAO ĐẤT, CHO THUÊ ĐẤT 1. Cơ sở lý luận về công tác giao đất, cho thuê đất 1. Một số khái niệm a. Tổ chức kinh tế Hiện nay có nhiều khái niệm về tổ chức kinh tế.
Trong đó có khái niệm được nêu trong các luật như sau: Theo Luật đầu tư 2013 tại Điều 3 có ghi: “Tổ chức kinh tế là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, gồm doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã và các tổ chức khác thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. Theo Luật đất đai 2013 tại Điều 3 nêu: “Tổ chức kinh tế bao gồm doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức kinh tế khác theo quy định của pháp luật về dân sự, trừ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.” Theo Luật Doanh nghiệp 2013 tại Điều 3 nêu: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Cũng trong luật này tại Mục 2 Điều 212 có ghi: “Hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên 10 lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này. Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thực hiên đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ” Trong Luật Hợp tác xã tại Điều 3 khoản 1, khoản 2 ghi: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã.” “Liên hiệp hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 04 hợp tác xã tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nhằm đáp ứng nhu cầu chung của 5 z hợp tác xã thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý liên hiệp hợp tác xã.” Tóm lại tổ chức kinh tế gồm doanh nghiệp đước thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; Hợp tác xã, Liên hiệp Hợp tác xã được thành lập theo Luật hợp tác xã; các tổ chức kinh tế khác theo Luật Đầu tư.
Tổ chức kinh tế là tổ chức lập ra với mục đích lợi nhuận thông qua kinh doanh, marketing… như các tập đoàn, các công ty liên doanh liên kết… Tuy nhiên trong Luận văn này chỉ nghiên cứu về tổ chức kinh tế trong Luật Đất đai 2013. Giao đất, cho thuê đất Theo Luật Đất đai 2013 giao đất, cho thuê đất có khái niệm như sau: “Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.” (Khoản 7 Điều 3 Luật Đất đai 2013) “Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất. Vai trò, ý nghĩa của việc giao đất, cho thuê đất Với mục tiêu Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước mong muốn chuyển từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp, đồng nghĩa với việc chuyển phần quỹ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, dịch vụ mà vẫn đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Nhà nước sẽ điều tiết quá trình chuyển đổi này thông qua các hình thức thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Vì vậy việc Nhà nước quyết định việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất, thúc đẩy ngành công nghiệp, dịch vụ phát triển đồng thời phát triển kinh tế xã hội. Chính sách về giao đất, cho thuê đất theo quy định trong pháp luật đất đai qua các thời kỳ Năm 1986 nước ta bắt đầu thực hiện chính sách đổi mới theo hướng Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa. Việc chuyển đổi được thể hiện bằng hệ thống pháp luật, trong đó có đổi mới về pháp luật đất đai nhằm phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế trong giai đoạn mới. Luật đất đai đầu tiên năm 1987 đến Luật đất đai năm 2013 đều khẳng định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”.
Nhà nước giao quyền sử dụng đất hoặc Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất. Sau đây là các quy định của pháp luật đất đai về giao đất, cho thuê đất qua các thời kỳ tương ứng với quá trình hình thành và phát triển của Luật đất đai. Thời kỳ thực hiện Luật Đất đai năm 1988 Luật Đất đai năm 1988 được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng12 năm 1987, các quy định về giao đất, cho thuê đất còn sơ sài, chủ yếu là quy định cơ quan nào đủ thẩm quyền giao đất, còn chưa có khái niệm về cho thuê đất. Điều 1 Luật Đất đai 1988 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý.
Nhà nước giao đất cho các nông trường, lâm trường, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân - dưới đây gọi là người sử dụng đất - để sử dụng ổn định, lâu dài. Nhà nước còn giao đất để sử dụng có thời hạn hoặc tạm thời”. Tháng 4 năm 1988 tại Nghị quyết 10-NQ/TW của Bộ chính trị về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp. Nhà nước có thể giao đất chưa sử dụng cho hợp tác xã, gia đình cá thể hoặc tư nhân kinh doanh, hoặc cho nông dân mượn để sản xuất.
Trong đó hợp tác xã có thể giao khoán diện tích đất cho các xã viên nhưng phải điều chỉnh giao khoán thích hợp và ổn định trong khoảng 15 năm, tránh tình trạng phân chia ruộng đất manh mún. 7 z Cụ thể tại mục B, điểm b thực hiện chế độ tự quản lý của hợp tác xã, tập đoàn sản xuất về khoán, phân công lao động và phân phối thu nhập trong hợp tác xã, tập đoàn sản xuất ghi: “Trong ngành trồng trọt, phải điều chỉnh diện tích giao khoán, khắc phục tình trạng phân chia ruộng đất manh mún hiện nay, bảo đảm cho người nhận khoán canh tác trên diện tích có quy mô thích hợp và ổn định trong khoảng 15 năm. Phải phân loại đúng các loại ruộng đất và xác định đúng các định mức, đơn giá đối với từng khâu trên từng loại đất để làm cơ sở giao khoán và ổn định mức khoán trong 5 năm; chỉ sửa đổi mức khoán khi điều kiện vật chất - kỹ thuật đã thay đổi”. Thời kỳ thực hiện Luật Đất đai năm 1993 Luật Đất đai năm 1993 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 14 tháng 7 năm 1993, thay thế Luật Đất đai 1988.
Luật Đất đai năm 1993 Quốc hội mở rộng thêm quyền cho người sử dụng đất với 5 quyền, giao đất cho người sử dụng đất ổn định và lâu dài. Đồng thời Nhà nước từng bước công nhận đất có giá, giá đất do Nhà nước quy định để tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế đất, đền bù khi Nhà nước thu hồi đất. Luật đất đai 1993 quy định: “Nhà nước giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Thời hạn giao đất sử dụng ổn định lâu dài để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20 năm, để trồng cây lâu năm là 50 năm.
Khi hết thời hạn, nếu người sử dụng đất có nhu cầu tiếp tục sử dụng và trong quá trình sử dụng đất chấp hành đúng pháp luật về đất đai thì được Nhà nước giao đất đó để tiếp tục sử dụng.” (Điều 20) “Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất để sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và làm muối không phải trả tiền sử dụng đất; còn các mục đích khác phải trả tiền sử dụng đất.” (Điều 22) 8 z Điều 73 Luật Đất đai 1993 quy định: “Người sử dụng đất có những quyền sau đây: 1- Được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 2- Hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất được giao; 3- Được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; 4- Hưởng các lợi ích do công trình công cộng về bảo vệ, cải tạo đất mang lại; 5- Được Nhà nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo và bồi bổ đất; 6- Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình; được bồi thường thiệt hại về đất khi bị thu hồi; 7- Được quyền góp đất để hợp tác sản xuất, kinh doanh theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích khi giao đất; 8- Được quyền khiếu nại, tố cáo về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai.” Điều 78 Luật Đất đai 1993 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản do hoàn cảnh gia đình neo đơn, khó khăn, do chuyển sang làm nghề khác nhưng chưa ổn định hoặc thiếu sức lao động thì được cho người khác thuê đất với thời hạn không được quá ba năm. Trường hợp đặc biệt khó khăn, thời hạn cho thuê có thể dài hơn do Chính phủ quy định; người thuê đất phải sử dụng đúng mục đích. Nghị định 04/2000/NĐ – CP ngày 11 tháng 02 năm 2000 của Chính phủ về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai.