Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư 1. Một số khái niệm liên quan đến giải phóng mặt bằng a. Giao đất Theo quy định tại Khoản 7, Điều 3, Luật đất đai 2013: Nhà nước giao quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước giao đất) là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Giao đất được hiểu là việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trao quyền sử dụng đất cho các đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua quyết định hành chính, bao gồm cả việc thực hiện quyết định hành chính đó (Lê Gia Chinh, 2014). Giao đất là căn cứ pháp lý phát sinh quyền sử dụng đất, xác lập quan hệ pháp luật đất đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên. Quyết định giao đất là quyết định hành chính của cơ quan có thẩm quyền nên quan hệ pháp luật về giao đất mang tính mệnh lệnh. Cho thuê đất Theo quy định tại Khoản 8, Điều 3, Luật đất đai 2013: Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất (sau đây gọi là Nhà nước cho thuê đất) là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.
Cho thuê đất cũng là một hình thức thực hiện quyền định đoạt của Nhà nước đối với đất đai thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Kinh nghiệm trong nước và quốc tế cho thấy, thực hiện chế độ thuê đất đã tạo cho người sử dụng đất một động lực đầu tư có hiệu quả vào đất đai. Cho thuê đất chính là hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để chuyển giao trên thực tế đất và quyền sử dụng đất cho các đối tượng sử dụng đất theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Mục đích của giao đất, cho thuê đất a.
Mục đích của giao đất - Xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất, là căn cứ pháp lý để giải quyết mọi quan hệ đất đai theo đúng pháp luật. 3 - Đảm bảo đất đai được sử dụng hợp pháp, đúng mục đích và có hiệu quả. - Giúp người sử dụng đất yên tâm đầu tư, khai thác tốt tiềm năng của đất nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất. - Làm cơ sở để người sử dụng đất thực hiện các quyền: Chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Mục đích của cho thuê đất - Đáp ứng nhu cầu sử dụng đất của các đối tượng, đặc biệt là các cá nhân, tổ chức nước ngoài. - Thúc đẩy nền kinh tế phát triển, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. - Góp phần sử dụng đầy đủ, hợp lý và hiệu quả vốn tài nguyên đất đai, thực hiện tốt các nội dung quản lý đất đai; - Xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất hoặc người sử dụng đất với người sử dụng đất, làm căn cứ pháp lý để giải quyết mọi quan hệ đất đai theo đúng pháp luật. Ý nghĩa của công tác giao đất, cho thuê đất - Với tư cách là một nội dung của quản lý Nhà nước về đất đai, thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất có một ý nghĩa vô cùng quan trọng không chỉ với bản thân chế độ quản lý Nhà nước đối với đất đai mà với cả xã hội và từng người dân.
Đối với từng chủ thể khác nhau, thu hồi đất, giao đất và cho thuê đất lại có một ý nghĩa khác nhau. - Các hoạt động giao đất và cho thuê đất đã hiện thực hoá quyền quản lí đối với đất đai của Nhà nước, khắc phục những vi phạm pháp luật trong nội dung quản lý Nhà nước về đất đai khi giao đất không đúng thẩm quyền… Việc luật hoá các quy định về cho thuê đất qua các lần sửa đổi bổ sung 2003 và 2013 của Luật Đất đai đã hạn chế những hành vi vi phạm pháp luật của các cán bộ quản lý Nhà nước về đất đai và người sử dụng đất. - Giao đất và cho thuê đất có một ý nghĩa quan trọng trong việc điều chỉnh và phân bổ lại đất đai và đảm bảo lợi ích chính đáng cho người sử dụng đất, cân đối mức cung và cầu về đất đai. Cơ sở pháp lý của công tác giao đất và cho thuê đất Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu đất đai để phát triển sản xuất, phục vụ xây dựng và đời sống ngày càng cao trong khi đó quỹ đất đai có hạn.
Vì vậy, vấn đề đặt ra đối với cơ quan quản lý đất đai là làm sao việc phân phối quỹ đất phải đảm bảo công bằng và hợp lý, đáp ứng được nhu cầu ngày càng gia tăng của các ngành sản xuất và đời sống nhân dân. Đây là vấn đề được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Sự quan tâm đó được thể hiện qua Luật Đất đai và hàng loạt các văn bản có liên quan của Chính phủ và các Bộ, ngành có liên quan. Trước năm 1993 Sau Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập.
Trong nước Việt Nam mới, các quy định về ruộng đất trước đây đều bị bãi bỏ. Năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh giảm tô và ra chỉ thị chia ruộng đất các đồn điền, trại ấp vắng chủ cho nông dân. Năm 1953, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Luật Cải cách ruộng đất. Nhà nước chủ trương tịch thu ruộng đất của địa chủ, cường hào trao cho dân cày, đồng thời xác định quyền sở hữu của họ trên những diện tích đất đó.
Năm 1954, Miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đất nước ta tạm thời chia cắt thành hai miền. Từ năm 1954-1957, Đảng và Nhà nước chủ trương thực hiện khôi phục nền kinh tế sau chiến tranh và phấn đấu hoàn thành những nhiệm vụ của cách mạng dân tộc dân chủ. Điều 11 Hiến pháp năm 1959 đã ghi nhận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trong thời kỳ quá độ bao gồm các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất sau: SHNN tức là SHTD. Điều lệ số 599-TTg về cải cách ruộng đất ở ngoại thành ngày 09/10/1955 quy định, tất cả những ruộng đất ở ngoại thành đã tịch thu, trưng thu, trưng mua thuộc phạm vi hoặc mở rộng thành phố hoặc kiến thiết công thương nghiệp đều thuộc QSH của Nhà nước.
Theo Thông tư số 449-TTg ngày 17/12/1959 về việc ban hành Điều lệ mẫu HTX sản xuất nông nghiệp bậc thấp, ruộng đất được chia ra thành các loại sau: 5 Năm 1987, Luật Đất đai ra đời, đánh dấu một cột mốc quan trọng của hệ thống pháp luật về đất đai theo tinh thần Hiến pháp 1980. Luật Đất đai đầu tiên của chúng ta quy định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao đất cho các nông trường, lâm trường, xí nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân để sử dụng ổn định, lâu dài”. Giai đoạn 1993 - 2003 Để cụ thể hoá nội dung này trong các thời kỳ Chính phủ và các Bộ đã ban hành hàng loạt các văn bản hướng dẫn thực hiện việc giao đất, cho thuê đất.
- Nghị định số 64/CP của Chính phủ ngày 27/09/1993 về giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp. - Nghị định số 02/CP của Chính phủ ngày 15/01/1994 về giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp. - Nghị định số 17/1999/NĐ-CP ngày 19/3/1999 của Chính phủ về thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế quyền sử dụng đất và thế chấp, góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất. - Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp.
- Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 về giao đất, cho thuê đất nông nghiệp đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp. Giai đoạn 2003 - 2013 Năm 2003, đổi mới chính sách đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Quốc hội đã ban hành Luật Đất đai năm 2003, trong đó quy định quyền định đoạt của Nhà nước đối với đất đai như sau: Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; quy định về hạn mức sử dụng đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, định giá đất. Ngoài ra, luật cũng quy định cụ thể các hình thức thu hồi đất, 6 giao đất và cho thuê đất. Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất… - Nghị định 120/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 về thu tiền sử dụng đất, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2011; - Nghị định 121/2010/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2010 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước, có hiệu lực từ 01/03/2011.
- Nghị định 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 về quản lý, sử dụng đất trồng lúa. Giai đoạn 2013 đến nay Năm 2013, tiếp tục đổi mới chính sách đất đai trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Quốc hội đã ban hành Luật Đất đai năm 2013, thay đổi so với Luật Đất đai năm 2003 về giao đất, cho thuê đất, để cụ thể thay đổi Chính phủ đã ban hành văn bản quy phạm pháp luật sau: - Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai. - Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về giá đất. - Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất.
- Nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 01/07/2014 quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. - Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2013 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.