CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái quát về chất thải y tế Chất thải rắn (CTR) là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng và khí được thải ra từ các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường. Chất thải rắn y tế (CTRYT) là CTR được thải từ các cơ sở y tế, bao gồm chất thải nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải y tế nguy hại là chất thải có chứa một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan của người, động vật, bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phẩm, hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong chất thải y tế. Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khỏe con người [3] Để phân loại chất thải y tế có rất nhiều cách, tuy thành phần của chất thải y tế không phong phú hơn các chất thải khác như chất thải sinh hoạt, chất thải đô thị, nhưng mức độ nguy hại thì chất thải y tế lại đứng hàng số 1. Dựa vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải y tế được phân thành 5 nhóm sau [4]: - Chất thải lây nhiễm - Chất thải hóa học nguy hại - Chất thải phóng xạ - Bình chứa áp suất - Chất thải thông thường 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thực trạng quản lý và xử lý chất thải rắn y tế 1.
Giới thiệu về tình hình xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu. Về quản lý, một loạt những chính sách quy định đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này. Các hiệp ước quốc tế, các quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia trên thế giới. Xử lý chất thải bệnh viện, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và khoa học công nghệ, nhiều nước trên thế giới đã có những biện pháp khác nhau để xử lý loại rác thải nguy hại này.
Ngày nay, thiêu đốt và khử khuẩn là hai phương pháp được sử dụng phổ biến nhất. Tùy thuộc vào các điều kiện cụ thể (kinh phí, công nghệ, quỹ đất, quan điểm và các quy định về bảo vệ môi trường), mỗi quốc gia có thể lựa chọn cho mình biện pháp xử lý phù hợp riêng. [7][18] Ở Mỹ, luật phòng chống ô nhiễm không khí đã làm giảm đáng kể việc áp dụng thiêu đốt trong xử lý chất thải rắn. Hiện nay, phương pháp khử khuẩn được áp dụng rộng rãi [14].
Ngược lại, ở Malaisia, phương pháp thiêu đốt trong các nhà máy xử lí chất thải tập trung được lựa chọn và là mô hình chủ yếu để xử lý phần lớn chất thải y tế được thu gom. Hầu hết chất thải y tế có khả năng cháy được thu gom và xử lý ở 3 nhà máy thiêu đốt rác tập trung [16]. Ở Pháp, sau khi ban hành hướng dẫn về phát thải không khí của Cộng đồng châu Âu (1992), một số lò đốt chất thải y tế của các bệnh viện đã bị đóng cửa do không đáp ứng yêu cầu [17]. Ngày nay chất thải rắn y tế nguy hại tại Pháp được xử lý theo 3 mô hình: phối hợp giữa thiêu đốt tại chỗ và thiêu đốt bên ngoài bệnh viện, đốt chung với chất thải sinh hoạt và khử khuẩn.
Mỗi mô hình được áp dụng phù hợp với điều kiện của từng địa phương. Tại Hồng Kông, chất thải lây nhiễm được xử lý bằng phương pháp thiêu đốt, chất thải còn lại không lây nhiễm được chôn lấp. Chỉ có 4 bệnh viện công có cơ sở 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thiêu đốt chất thải lây nhiễm tại chỗ. Đối với các cơ sở không có lò đốt, chất thải lây nhiễm được thu gom vận chuyển đến lò đốt chất thải tập trung để xử lý chất thải lây nhiễm.
Mô hình áp dụng này giống Malaysia. Tại Nhật Bản, hầu hết chất thải y tế phát sinh trong ngày được thiêu hủy trong các cơ sở đốt chất thải của tư nhân. Phương pháp khử khuẩn: Mục đích của việc khử khuẩn là biến đổi rác nhiễm khuẩn sang dạng rác thải không nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, phương pháp này không thể áp dụng cho một số loại CTYT như chất thải hóa học, chất thải phóng xạ… Nguyên lý của phương pháp này là tạo ra các phản ứng hóa học, ở nhiệt độ cao được tạo ra do các thiết bị nhiệt hoặc lò vi sóng.
Tình hình quản lý và xử lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 1. Hiện trạng công tác quản lý chất thải y tế Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi các cấp từ Trung ương đến địa phương, thể hiện ở các mức độ thực hiện quy định ở các bệnh viện khá cao. Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển đến khác khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó. Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn (chất thải y tế thông thường, chất thải y tế nguy hại…) Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển chất thải y tế nguy hại; 53,4 % bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR [1]… đây là những yếu tố để đảm bảo an toàn cho người bệnh và môi trường.
Phương tiện thu gom chất thải còn thiết và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn. Nguyên nhân do có rất ít nhà sản xuất quan tâm đến mặt hàng này, do vậy 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mua sắm phương tiện thu gom CTR đúng tiêu chuẩn của các bệnh viện gặp khó khăn. Theo báo cáo của JICA (2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố điển hình là Hải Phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xe tay, các dụng cụ vận chuyển bằng tay khác. Một số khu vực lưu trữ CTR trước khi xử lý tại chỗ hoặc tại các khu vực xử lý bên ngoài được trang bị điều hòa và hệ thống thông gió theo quy định [1].
Nhìn chung các phương tiện vận chuyển chất thải y tế còn thiếu, đặc biệt là các xe chuyên dụng. Hoạt động vận chuyển chất thải y tế nguy hại từ bệnh viện, các cơ sở y tế đến nơi xử lý, chôn lấp hầu hết do Công ty môi trường đô thị đảm nhiệm, không có trang thiêt bị đảm bảo cho quá trình vận chuyển được an toàn. Có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải trong đó 91,1 % đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn. Theo báo cáo kiểm tra của các tỉnh và nhận xét của đoàn kiểm tra liên Bộ, còn có hiện tượng phân loại nhầm chất thải, một số loại chất thải thông thường được đưa vào chất thải y tế nguy hại gây tốn kém trong việc xử lý.
Có 63,6 % sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP. Chỉ có 29,3 % sử dụng túi có thành dày theo đúng quy chế. Chất thải y tế đã được chứa trong các thùng đựng chất thải. Tuy nhiên, các bệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có một số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế (bệnh viện trung ương và bệnh viện tỉnh).
Hầu hết ở các bệnh viện (90,9%) CTR được thu gom hàng ngày, một số bệnh viện có diện tích chật hẹp nên gặp khó khăn trong việc thiết kế lối đi riêng để vận chuyển chất thải. Chỉ có 53% số bệnh viện chất thải được vận chuyển trong xe có nắp đậy. Có 53,4% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, trong đó có 45,3 % đạt yêu cầu theo quy chế quản lý chất thải y tế [2] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Hiện trạng thu gom, phân loại chất thải y tế tại các bệnh viện trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2010 Các yêu cầu theo quy chế quản lý CTYT Tỷ lệ tuân thủ (%) Túi đựng chất thải đúng quy cách về bề dày và dung tích 66,67 Túi đựng chất thải đúng quy cách về màu sắc 30,67 Túi đựng chất thải đúng quy cách về buộc đóng gói 81,33 Hộp đựng vật sắc nhọn đúng quy cách 93,9 Thùng đựng có nắp đậy 58,33 Thùng đựng có ghi nhãn 66,67 Hộp đựng vật sắc nhọn đúng quy cách 93,9 [Nguồn: Số liệu thống kê trung bình của Sở y tế từ kết quả khảo sát 74 bệnh viện Hà Nội năm 2009-2010] Bảng 1.2 : Thực trạng các trang thiết bị thu gom lưu giữ CTR y tế tại một số thành phố [9] Số Dụng cụ thu gom tại Lưu trữ chất thải lượng chỗ đơn vị Có Không Loại Thành Thùng trả lời điều có điều Không đô thị phố Xe có Phòng phiếu Khác hòa và hòa và có khu tay bánh chung điều thông thông lưu trữ xe tra gió gió Đô thị Hà nội 61 32 25 15 24 13 15 9 loại đặc TP. HCM 51 30 27 7 38 11 1 1 biệt Đà nẵng 20 9 5 6 2 13 2 3 Đô thị Hải Phòng 17 2 4 11 1 3 8 5 loại II Huế 23 1 14 0 1 5 5 12 Tổng 172 74 75 39 66 45 31 30 [Nguồn: Nghiên cứu quản lý môi trường đô thị tại Việt Nam – Tập 6.
Nghiên cứu về quản lý CTR ở Việt nam, JICA, tháng 5 -2011] 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.